1. Sự
nghiệp văn học

a. Nam
Cao (1915-1951) tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ra trong 1 gia đình nông
dân làng Đại Hoàng, tỉnh Hà Nam. Ông là nhà văn có vị trí hàng đầu trong nền
văn học Việt Nam thế kỷ XX, là một trong những đại diện xuất sắc nhất của trào
lưu văn học hiện thực phê phán trước 1945. Nam Cao cũng là cây bút tiêu biểu của
chặng đầu nền văn học mới sau cách mạng.
b. Sự
nghiệp Vhọc của Nam Cao trải dài trên 2 thời kỳ, trước và sau CMT 8.
– Trước
CMT8: sáng tác của N.Cao tập trung vào 2 đề tài chính: cuộc sống người trí thức
tiểu tư sản nghèo và cuộc sống người nông dân ở quê hương.
+ Ở
đề tài người trí thức tiểu tư sản nghèo, đáng chú ý là các truyện ngắn:”Những
truyện không muốn viết”; “Trăng sáng”, “Đời thừa”, “Mua nhà”, “Nước mắt”, “Cười”...và
tiểu thuyết “Sống mòn”(1944). Trong khi mô tả hết sức chân thực tình cảnh
nghèo khổ, bế tắc của những nhà văn nghèo, những “Giáo khổ trường tư”, học sinh
thất nghiệp…Nam Cao đã làm nổi bật tấn bi kịch tinh thần của họ, đặt ra những vấn
đề có ý nghĩa XH to lớn. Đó là tấn bi kịch dai dẳng của người trí thức, những
người có ý thức sâu sắc về giá trị đời sống và nhân phẩm, muốn sống có hoài
bão, nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh XH làm cho “chết mòn”, phải sống”
đời thừa”
+ Ở
đề tài về người nông dân, đáng chú ý nhất là các truyện:”Chí Phèo”, “Trẻ con
không được ăn thịt chó”,” Một bữa no”,” Lão Hạc”,” Một đám cưới”, “Lang Rận”...ở
đề tài này, Nam Cao thường nhắc đến những hạng cố cùng, những số phận hẩm hiu bị
ức hiếp, bị lưu manh hoá …Nhà văn đã kết án sâu sắc cái Xã hội tàn bạo làm huỷ
diệt cả nhân tính của những con người lương thiện. Ở một số TP, Nam Cao đã thể
hiện niềm xúc động trước bản chất đẹp đẽ, cao quí trong tâm hồn họ (L.Hạc)
– Sau CMT8, Nam Cao sáng tác để phục vụ công cuộc kháng chiến, truyện ngắn “Đôi mắt” (1948) “Nhật ký ở rừng” (1948) và tập bút kí “Chuyện biên giới” (1950) của ông thuộc vào những sáng tác đặc sắc nhất của nền văn học mới sau CM còn rất non trẻ khi đó.
– Sau CMT8, Nam Cao sáng tác để phục vụ công cuộc kháng chiến, truyện ngắn “Đôi mắt” (1948) “Nhật ký ở rừng” (1948) và tập bút kí “Chuyện biên giới” (1950) của ông thuộc vào những sáng tác đặc sắc nhất của nền văn học mới sau CM còn rất non trẻ khi đó.
– Ngòi
bút Nam Cao vừa tỉnh táo, sắc lạnh, vừa nặng trĩu suy tư và đằm thắm yêu
thương. Nam Cao là cây bút bậc thầy, ông xứng đáng được coi là một nhà văn lớn
giàu sức sáng tạo của văn học VN.
2. Tuyên
ngôn nghệ thuật của NCao
+Truyện
ngắn “Trăng sáng” (1943): “Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa
dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ
kia, thoát ra từ những kiếp lầm than“
+Truyện
ngắn”Đời thừa (1943)
+ Một tác phẩm” thật giá trị” thì phải có nội dung nhân đạo sâu sắc:
+ Một tác phẩm” thật giá trị” thì phải có nội dung nhân đạo sâu sắc:
” Nó phải
chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó
ca tụng tình thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn”.
+ Nhà văn
đòi hỏi cao sự tìm tòi sáng tạo và lương tâm người cầm bút “Văn chương không cần
đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ
dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi
và sáng tạo những cái gì chưa có“
– Văn
chương đòi hỏi phải có lương tâm của người cầm bút: “Sự cẩu thả trong bất cứ
nghề gì cũng là bất lương rồi. Nhưng cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện.
– Trong
tác phẩm “Đôi mắt” (1948) NC đã nêu 1 quan điểm của mình: “Vẫn giữ đôi mắt ấy để
nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, người ta chỉ càng thêm chua chát
và chán nản“.
3. Phong
cách nghệ thuật: NC có phong cách NT độc đáo.
- Đặc biệt
quan tâm đến đời sống tinh thần – con người bên trong của con người.
- Biệt
tài phát hiện, miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật.
- Rất
thành công trong ngôn ngữ độc thoại và độc thoại nội tâm.
- Kết cấu
truyện chặt chẽ.
- Cốt
truyện đơn giản, rất đời thường nhưng lại đặt ra những vấn đề quan trọng, sâu
xa, có ý nghĩa triết lí sâu sắc.
- Giọng
điệu lời văn: lạnh lùng mà đầy thương cảm, đằm thắm, yêu thương.
- Ngôn
ngữ tự nhiên, sinh động, gắn với lời ăn tiếng nói của quần chúng.
NGUYỄN TUÂN
1-Con
người:
Nguyễn
Tuân (1910-1987) sinh ra trong 1 gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn, NTuân cầm
bút từ khoảng đầu những năm30, nhưng đến 1938 mới nổi tiếng với các tác phẩm “Một
chuyến đi”, “Vang bóng một thời”.
Nguyễn
Tuân là một trí thức giàu lòng yêu nước, tinh thần dtộc. Ở NT, ý thức cá nhân
phát triển rất cao. Ông viết văn trước hết là để khẳng định cá tính độc đáo của
mình. NT còn là con người rất mực tài hoa. Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn am hiểu
những môn nghệ thuật khác: hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh… Nguyễn Tuân
là một nhà văn thực sự biết quý trọng nghề nghiệp của mình.
2- Phong
cách nthuật của NT
– NT có
một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc. Ông quan niệm đã là văn thì
trước hết phải có một phong cách độc đáo, viết không giống ai, từ chủ đề, nhân
vật, kết cấu,đến cách đặt câu dùng từ….
– Trong phong cách nghệ thuật của NT có chất tài hoa, tài tử. Chất tài hoa này được thể hiện rất rõ khi ông đề cao những con người tài hoa, những người biết trân trọng cái tài, cái đẹp. NT luôn tiếp cận cảnh vật, sự việc và con người ở phương diện thẩm mỹ.
– Trong phong cách nghệ thuật của NT có chất tài hoa, tài tử. Chất tài hoa này được thể hiện rất rõ khi ông đề cao những con người tài hoa, những người biết trân trọng cái tài, cái đẹp. NT luôn tiếp cận cảnh vật, sự việc và con người ở phương diện thẩm mỹ.
– Tính
uyên bác thể hiện trong văn của NT: Đọc văn của NT, người đọc luôn được cung cấp
những tri thức phong phú về văn hoá trên những lĩnh vực: Văn học, nghệ thuật, lịch
sử, địa lý, hội hoạ, điêu khắc, điện ảnh…
-NT học
theo”Chủ nghĩa xê dịch”, ông luôn thèm khát những điều mới lạ. Ông không thích
những gì bằng phẳng, nhợt nhạt, yên ổn. Ông là nhà văn của những tính cách phi
thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt.
NT có
phong cách tự do, “ngông”, phóng túng và ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân. Điều
này đã khiến NT tìm đến thể tuỳ bút như một điều tất yếu.
-Phong
cách của NT có sự thay đổi trước và sau CMT8.
3- Những
nét chính về sự nghiệp vhọc của NT
Trong
hơn nửa thế kỷ cầm bút, NT đã để lại một sự nghiệp vhọc lớn.
-Trước CMT8 các tác phẩm của ông chủ yếu xoay quanh 3 đề tài:
-Trước CMT8 các tác phẩm của ông chủ yếu xoay quanh 3 đề tài:
+ Một là
về “Chủ nghĩa xê dịch” : nghĩa là ghi lại những cảnh thnhiên, xhội, những
cảm nghĩ tài hoa độc đáo của nhà văn trên đường”xê dịch” khắp đất nước mình”một
chuyến đi”,” thiếu quê hương”
+ Hai là
đề tài “Vang bóng một thời“, ấy là thời phkiến đã qua, những dư âm còn vọng lại.
Ông viết về những phong tục đẹp, những thú chơi tinh tế, tao nhã của người xưa
(tphẩm tiêu biểu “Vang bóng một thời”)
+ Ba là
đề tài “Đời sống truỵ lạc”: Viết về tình trạng khủng hoảng tinh thần của một
nhvật “tôi” hoang mang bế tắc, tìm cách thoát ly trong đàn hát, trong rượu và
thuốc phiện (tphẩm” Chiếc lư đồng mắt cua”)
=> Giá trị của tphẩm viết về ba đề tài trên là những trang viết đầy tài hoa và thấm nhuần lòng yêu nước, viết về phong cách thiên nhiên và những vùng đất khác nhau trên quê hương mình, viết về những thú chơi tao nhã thể hiện một khía cạnh của nền vhoá cổ truyền của dtộc và về những con người tài hoa, nghĩa sĩ và tài năng nhân cách kết hợp với nhau.
=> Giá trị của tphẩm viết về ba đề tài trên là những trang viết đầy tài hoa và thấm nhuần lòng yêu nước, viết về phong cách thiên nhiên và những vùng đất khác nhau trên quê hương mình, viết về những thú chơi tao nhã thể hiện một khía cạnh của nền vhoá cổ truyền của dtộc và về những con người tài hoa, nghĩa sĩ và tài năng nhân cách kết hợp với nhau.
– Sau
CMT8, NT hăng hái dùng ngòi bút của mình phục vụ hai cuộc khchiến chống Pháp và
chống Mỹ và công cuộc xdựng đất nước. Ông stác hàng loạt tphẩm, bút ký, tuỳ bút
có gitrị nghệ thuật (tác phẩm tiêu biểu: “Sông đà”,” Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”)
giá trị của những tác phẩm này là ở những trang viết đầy tự hào, ca ngợi nhân
dân trong chiến đấu và lao động. Qua những trang viết ấy, người ta thấy dân tộc
Việt Nam không chỉ cần cù, dũng cảm, có chính nghĩa mà còn rất mực tài hoa.
– NT có
đóng góp rất lớn đối với lịch sử văn học dân tộc. Thể bút ký, tuỳ bút, tuỳ bút
văn học đạt trình độ nghệ thuật cao, góp phần làm phong phú ngôn ngữ văn học
dân tộc, đem đến cho văn xuôi VN một phong cách viết đặc biệt tài hoa và độc
đáo.
NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ
CHÍ MINH(1890-1969)
•1.Con
người:
NAQ-HCM
là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, là người anh hùng giải phóng dân tộc VN, đồng
thời người cũng là một nhà văn hoá lớn.
HCM tên
gọi thời niên thiếu là Nguyễn Sinh Cung, trong thời kì đầu hđộng CM mang tên
NAQ, sinh ngày 19.5.1890 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.
Năm
1911, HCM ra đi tìm đường cứu nước từ bến cảng Nhà Rồng. Tháng 1.1919, Người
đưa bản Yêu sách của nhân dân An Nam về quyền bình đẳng, tự do đến Hội nghị Véc
xai (Pháp). Năm 1920, Người dự Đại hội Tua và là một trong những thành viên đầu
tiên tham gia sáng lập ĐCS Pháp. HCM đã tham gia thành lập nhiều tổ chức CM
như: VNTNCMĐCH (1925), Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức á Đông (1925) và chủ
toạ hội nghị thống nhất các tổ chức Cộng Sản ở trong nước tại Hương Cảng, thành
lập ĐCS VN (3.2.1930). Tháng 2.1941, Người về nước hoạt động và thành lập Mặt
trận Việt Minh, trực tiếp lãnh đạo phong trào CM ở trong nước giành thắng lợi
trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám.1945. Sau hơn 30 năm, trải qua nhiều năm
tháng hoạt động cách mạng, ngày 2/9/1945 HCM đã đọc bản “TNĐL” tại Quảng trường
Ba Đình lịch sử, khai sinh ra nước VNDCCH. Sau cuộc tổng tuyển cử đầu tiên
6.1.1946, Người được bầu làm Chủ tịch nước VNDCCH. Từ đó Người luôn đảm nhiệm
những chức vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước, lãnh đạo toàn dân giành thắng lợi
trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược. Người qua
đời ngày 2.9.1969, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho dân tộc VN và nhân dân thế
giới.
Năm
1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của CTHCM, tổ chức giáo dục, khoa học
và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi nhận và suy tôn người là “Anh
hùng giải phóng dân tộc VN, nhà văn hoá lớn”. HCM là vị lãnh tụ vĩ đại của dân
tộc. Trong sự nghiệp CM to lớn đó, Người đã để lại 1 di sản đặc biệt cho dân tộc,
đó là một sự nghiệp văn chương đồ sộ.
2. Những
nét lớn về sự nghiệp văn học của HCM.
Trong sự
nghiệp lớn lao của HCM có một di sản đbiệt để lại cho dtộc, đó là sự nghiệp vhọc.
Người đã để lại cho nhdân ta một sự nghiệp văn chương lớn lao về tầm vóc, phong
phú, đa dạng về thể loại và đặc sắc về phcách sáng tác. Do đkiện hđộng cmạng những
năm ở nước ngoài nên các tphẩm của NAQ-HCM được viết bằng tiếng pháp, hán văn
và tiếng Việt, có thể tìm hiểu sự nghiệp vhọc của Người chủ yếu trên 3 lĩnh vực.
a. Văn
chính luận.
– Những
tác phẩm văn chính luận của HCM được viết ra chủ yếu với mục đích đấu tranh
chính trị nhằm tiến công trực diện kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ CM qua
những chặng đường lịch sử.
– Từ những
năm 20 của thế kỷ XX, các bài văn chính luận với bút danh NAQ đăng trên các
báo”Người cùng khổ” (leparia), nhân đạo(Lhumanité), “Đời sống thợ thuyền” (la
vie ouvriere) đã tác động và ảnh hưởng lớn đến quần chúng Pháp và nhân dân những
nước thuộc địa, kêu gọi thức tỉnh những người nô lệ bị áp bức liên hiệp lại
trong mặt trận đấu tranh chung. Một trong những tác phẩm lớn đã kết tinh và hội
tụ lại tinh thần trên là “Bản án chế độ thực dân Pháp”.
– Năm
1945 “Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện chính trị có giá trị lịch sử lớn lao,
phản ánh khát vọng độc lập, tự do và cuộc đấu tranh kiên cường bền bỉ của dân tộc
đã giành được thắng lợi. Đây là áng văn chính luận hùng hồn tuyên bố quyền độc
lập của dân tộc VN trước nhân dân trong nước và thế giới. “TNĐL” là tác phẩm
chính luận có giá trị pháp lý, giá trị lịch sử, giá trị nhân bản và giá trị nghệ
thuật cao.
– “Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến”(1946) và ” không có gì quí hơn độc lập tự
do”(1966) là những áng văn chính luận hào hùng, tha thiết làm rung động hàng
triệu trái tim yêu nước. Những tác phẩm ấy nói lên các vấn đề thời sự cấp bách
của dân tộc, thể hiện sâu sắc tiếng gọi của non sông, đất nước trong những giờ
phút thử thách đặc biệt.
– Trong
những năm tháng cuối đời, Ngươì viết bản”Di chúc” thiêng liêng và chan chứa
tình cảm. Bản “Di chúc” là lời căn dặn thiết tha, chân tình với đồng bào, đồng
chí, vừa mang tính chiến lược trong hướng phát triển của đất nước, vừa thấm đượm
tình yêu thương con người.
b.Truyện
và ký.
Khoảng từ
năm 1922-1925 NAQ có viết một số truyện ngắn và ký bằng tiếng Pháp đặc sắc,
sáng tạo và hiện đại. Các truyện ngắn thường dựa trên một sự kiện, một câu truyện
có thật , từ đó Người biết vận dụng, hư cấu để thực hiện dụng ý nghệ thuật của
mình .
– Một số
tphẩm tiêu biểu là: Pari(1922), Con người biết mùi hun khói (1922), Đồng
tâm nhất trí(1922); “Vi hành”(1923); “Những trò lố hay là Va ren Phan Bội Châu
“(1925)
– Truyện
ngắn của NAQ cô động, cốt truyện sáng tạo, kết cấu độc đáo. Mỗi truyện đều có
tư tưởng riêng hẫp dẫn, sáng tỏ, ý tưởng thâm thuý, kín đáo chất trí tuệ toả
trong hình tượng và phong cách giàu tính hiện đại.
c. Thơ
ca:
– Đây là
lĩnh vực nổi bật trong giá trị sáng tạo văn chương của HCM.
Với gần
250 bài thơ có giá trị được tuyển chọn và in trong các tập”NKTT”(134 bài),
“ThơHCM”(86 bài-1967) và”Thơ chữ Hán HCM” (86 bài,1990), HCM đã có những đóng
góp quan trọng cho nền thơ ca VN hiện đại .
– Tiêu
biểu nhất là “NKTT”được viết trong thgian Người bị giam cầm ở nhà tù Quốc dân Đảng
tại Quảng Tây-Trung Quốc từ 29.8.1942 đến10.9.1943. Tập thơ “NKTT” trước hết là
cuốn nhật ký bằng thơ phản ánh tâm hồn và nhân cách cao đẹp của những chiến sĩ
cách mạng, đồng thời tố cáo bộ mặt đen tối và nhem nhuốc của chế độ nhà tù cũng
như của XH Trung Quốc thời Tưởng giới Thạch tập thơ chan chứa tình cảm nhân đạo,
luôn hướng về những người lao động, những bthơ trong “NKTT” biểu hiện lòng yêu
nước thiết tha của những chsĩ csản, chứa đựng những bức hoạ nhân sinh, đạo lý,
thể hiện ý chí vượt lên gian khổ để vươn tới tự do. Các bthơ trong “NKTT” vừa đậm
đà mầu sắc cổ điển, vừa thể hiện được tinh thần thời đại.
– Ngoài
tập “NKTT” HCM còn viết những bài thơ chữ tình độc đáo và những bài thơ mộc mạc,
giản dị, để tuyên truyền đường lối CM (Pắc bó hùng vĩ, Tức cảnh Pắc bó, bài ca
du kích, ca sợi chỉ…). Đi vào cuộc khchiến chống thdân Pháp, Người đã biểu lộ
những nỗi lo lắng về vận mệnh của non sông, tcảm thiết tha, gắn bó với cảnh sắc
thnhiên đất nước (cảnh khuya, đi thuyền trên sông đáy, cảnh rừng Việt Bắc) những
ca ngợi sức mạnh của quân và dân ta trong cuộc khchiến và niềm vui thắng lợi (rằm
tháng giêng, lên núi,tin thắng trận, đêm thu…)
– Tập
“thơ chữ Hán HCM” tập hợp 36 bài thơ chữ Hán viết trong những thời điểm với những
đề tài (thu dạ, Nguyên tiêu, Tặng bùi công, Nhị vật, thất cửu…)
3. Phong
cách nghệ thuật HCM:
Phong
cách nghệ thuật của NAQ-HCM là một phong cách vừa nhất quán, vừa đa dạng. Tính
nhất quán thể hiện rõ nhất ở nguyên tắc sáng tác, ở lối viết giản dị ngắn gọn
mà linh hoạt, biến hoá, ở khả năng kết hợp nhuần nhị yếu tố cổ điển với yếu tố
hiện đại, ở khuynh hướng vận động luôn hướng về ánh sáng, sự sống và tương lai
của tư tưởng và hình tượng nghệ thuật. Tính đa dạng phong phú được thể hiện ở
bút pháp, nội dung, kết cấu, ngôn từ, thủ pháp nghệ thuật…Ngay trong cùng một đề
tài, thậm chí cùng một tác phẩm, tính đa dạng và phong phú cũng được thể hiện
rõ nét.
Những
tác phẩm của NAQuốc-HCM có phong cách đa dạng và thống nhất kết hợp sâu sắc và
nhuần nhị mối quan hệ giữa chính trị và văn chương, giữa tư tưởng và nghệ thuật,
giữa truyền thống và hiện đại. Dù sáng tác bằng thể loại nào, tác phẩm của Người
cũng đều có phong cách riêng, độc đáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững.
– Văn
chính luận của NAQ-HCM biểu lộ tư duy sắc sảo giầu trí thức văn hoá, gắn lý luận
với thực tiễn, vận dụng hiệu quả những phương thức biểu hiện.
– Trong
truyện và ký, ngòi bút NAQ rất chủ động và sáng tạo khi là lối kể chân thực tạo
không khí gần gũi, có khi là giọng điệu châm biến sắc sảo thâm thuý và tinh tế.
Chất trí tuệ và tính hiện đại là những nét đặc sắc trong truyện ngắn của NAQ.
– Thơ ca
HCM cũng có phong cách đa dạng. Những bài cổ thi hàm súc uyên thâm, đạt chuẩn mực
cao về nghệ thuật, những bài thơ hiện đại được Người vận dụng qua những thể loại,
phục vụ có hiệu quả cho nhiệm vụ cách mạng.
=> Nhìn
chung, nội dung và hình thức nghệ thuật trong sáng tác của NAQ-HCM luôn vận động
linh hoạt theo mục đích sáng tác, đối tượng tác động và hoàn cảnh giao tiếp cụ
thể…
4. Quan
điểm sáng tác HCM:
– Sinh
thời Chủ Tịch HCM không nhận mình là nhà văn nhà thơ và chỉ là người bạn của
văn nghệ, người yêu văn nghệ, nhưng rồi chính hoàn cảnh thôi thúc, nhiệm vụ
cách mạng yêu cầu, môi trường XH và thiên nhiên gợi cảnh, cùng với tài năng nghệ
thuật và tâm hồn nhạy cảm, Người đã viết được rất nhiều áng văn chính luận hào
hùng, những truyện ngắn đặc sắc và hàng trăm bài thơ rất hay. Người có ý thức
và am hiểu sâu sắc qui luật và đặc trưng của hoạt động văn nghệ, từ phương diện
tư tưởng chính trị đến nghệ thuật biểu hiện điều đó trước hết được biểu hiện trực
tiếp trong quan điểm sáng tác văn chương của người.
+ Là nhà
CM vĩ đại lại rất yêu văn nghệ, HCM xem văn nghệ là một hđộng tinh thần phphú
và phvụ có hiệu quả cho sự nghiệp CM, nhà văn là chsĩ trên mặt trận vhoá tư tưởng
tinh thần đó đã được Người nói lên trong bài thơ” cảm tưởng đọc”Thiên gia thi”
“Thơ xưa
thường chuộng thiên nhiên đẹp-Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi,sông-Nay ở trong
thơ nên có thép-Nhà thơ cũng phải biết xung phong“
Chất” thép ” ở đây chính là xu hướng cách mạng và tiến bộ về tư tưởng, là cảm hứng đấu tranh XH tích cực. Quan điểm của HCM là sự tiếp thu kế thừa quan điểm dùng văn chương làm vũ khí chiến đấu trong truyền thống dân tộc và được nâng cao trong thời đại cách mạng vô sản.
Chất” thép ” ở đây chính là xu hướng cách mạng và tiến bộ về tư tưởng, là cảm hứng đấu tranh XH tích cực. Quan điểm của HCM là sự tiếp thu kế thừa quan điểm dùng văn chương làm vũ khí chiến đấu trong truyền thống dân tộc và được nâng cao trong thời đại cách mạng vô sản.
+ HCM đặc
biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức và tiếp nhận văn chương: trong thời đại
cách mạng phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ Người nêu kinh
nghiệm chung cho hoạt động báo trí và văn chương. Trước khi cầm bút người xắc định
rõ. viết cho ai?( Đối tượng). Viết để làm gì (mục đích) viết cái gì ( nội dung)
và viết như thế nào?( hình thức).
Người
chú ý đến quan hệ giữa phổ cập và nâng cao trong văn nghệ các khía cạnh
trên liên quan đên nhau trong ý thức và trách nhiệm của người cầm bút.
+ HCM
luôn quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân thực, phát biểu trong buổi
khai mạc phòng triển lãm hội hoạ trong năm đầu sau cách mạng. Người uốn nắn một
hướng đi” chất mơ mộng nhiều quá, và cái chất thật của sự sinh hoạt rất ít” người
yêu cầu văn nghệ sĩ phải miêu tả cho hay, cho chân thật , hùng hồn” những đề
tài phong phú của hiện thực cách mạng, phải chú ý nêu gương” người tốt việc tốt”
uốn nắn và phê bình cái xấu bởi tính chân thực chính là cái gốc của văn chương
xưa và nay.
– Nhà
văn cũng phải chú ý đến hình thức biểu hiện, tránh lối viết cầu kỳ, xa lạ, nặng
nề. Hình thức của tác phẩm trong sáng hấp dẫn, ngôn ngữ phải chọn lọc, bảo đảm
sự trong sáng của tiếng Việt. Theo Người tác phẩm văn chương phải thể hiện được
tinh thần của dân tọc của nhân dân và được nhân dân ưa thích.
Ví dụ một
đề thi ĐH (câu 2 điểm): Nêu tóm tắt quan điểm sáng tác nghệ thuật của HCM. Chứng
minh sự thể hiện trong các sáng tác VH của Người.
BÀI LÀM
* Giới
thiệu
– Cùng với
sư nghiệp CM vĩ đại, Bh đã để lại 1 sự nghiệp văn chương phong phú bao gồm nhiều
thể loại ( thơ ca, văn xuôi, kịch ) được viết bằng nhiều bút pháp ( Tự sư, trữ
tình, châm biếm, chính luận ) và bằng nhiều thứ tiếng …. Đáng chú ý là tất cả
những sáng tác của 1 qđ2 NT rõ ràng, đúng đắn.
+ Trước
hết, cần thấy BH là người có tài văn chương, am hiểu sâu sắc về NT, có những
dung động tinh tế trước cái đẹp của cuộc sống. Tuy vậy đúng như Bác đã viết
trong tác phẩm ” đường cách mệnh ” ( 1925 ) : ” Hơn hai mươi triệu đồng bào hấp
hối trong vòng tử địa. Phải kêu to làm chóng để cứu lấy giống nòi, thì giờ đâu
rảnh mà vẽ với chau chuốt ” – Bác rất yêu văn chương nhưng không bao giờ coi đấy
là sự nghiệp chủ yếu là ” ham muốn tốt bậc của đời mình “Bác viết trong thư trả
lời các nhà báo ( 1-1946) : “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tốt bậc là làm
sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào
ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành“. Chính vì thế Bác đã dồn hết
sức lực, tâm trí cho hoạt động CM.
+ Nhưng
con đường làm CM để cứu nước cứu dân Bác nhận thấy văn chương là vũ khí sắc bén
để chiến đấu chống kẻ thù, là phương tiện hiệu nghiệm để tuyên truyền CM, động
viên chiến sĩ đồng bào. Do đó Bác đã nắm chắc cái “công cụ tinh vi, kỳ diệu” ấy,
đã mài sắc nó bằng ý chí CM, bằng tài năng NT và Bác đã tạo ra sự nghiệp văn
chương có giá trị tg2 như ngoài ý định của người.
+ N2 điều
đó đã dẫn tới quan điểm NT của B: coi việc viết văn làm thơ trước hết không phải
là một hành vi văn chương mà là một hành vi chính trị, môt hvi CM. Hoạt động CM
bao giờ cũng có đối tượng cụ thể, có mục tiêu thiết thực. Do đó khi đặt bút viết
bao giờ bác Cũng tự hỏi về đối tượng và mục đích: “Viết cho ai ? Viết để làm gì
? ” sau đó B mới quyết định về nội dung: “viết cái gì ? ” và cuối cùng mới lựa
chọn hình thức biểu hiện : ” Viết ntn ?” ( Cách viết 1947)
- Chứng
minh sự thể hiện qđiểm Nt trong stác: ( Phải nói tới nhận xét chung, cho dân hiểu,
cho người có văn hoá cao, viết cho dtộc- cho thgiới và viết cho bản thân mình lại
khác )
+ Quan
điểm NT của BH là nhất quán nhưng lại biểu hiện trong stác rất đa dạng vì đối
tượng mà Bác hướng đến hết sức phong phú. Tuỳ theo từng đối tượng cụ thể, các
sáng tác văn thơ của B cũng luôn thay đổi từ nội dung đến hình thức, từ ý đồ tư
tưởng đến cách viết.
+ Trước
hết, để tuyên truyền CM và hướng tới đồng bào mình chủ yếu là những người dân
thường có trình độ VH thấp, thích những gì dễ hiểu, dễ nhớ. B đã viết hàng lọat
tác phẩm rất đơn sơ, mộc mạc ” tưởng như không thể gọi là NT” (Hoài thanh – ” Học
tập B và làm theo gương B “). N lại dễ dàng đi vào đời sống, tâm hồn của các tầng
lớp nhân dân, giúp họ hiểu tình cảnh đất nước và có hành động CM kịp thời. Đó
là tr ngắn ” Đồng tâm nhất trí ” là các bài thơ ” Ca sợi chỉ “, “Con cáo và tổ
ong “…. B kêu gọi toàn dân đoàn kết để tạo thành sức mạnh cứu nước bằng cách
nói dễ hiểu, hình ảnh giản dị đầy sức thuyết phục:
“Hòn đá
to-Hòn đá nặng-chỉ một người-Nhấc không đặng” – “Hòn đá to-Hòn đá nặng-Nhiều
người nhấc-Nhấc lên đặng” – “Biết đồng sức-Biết đồng lòng-Việc gì khó-Làm
cũng xong” (Hòn đá to)
* Cũng
có khi vẫn vì mđích tuyên truyền CM nhưng B lại hướng tới những người có vhoá
cao. Khi đó Bác bắt buộc phải làm văn chương NT thực sự. Đó là những tp B viết
bằng tiếng Pháp cho những người dân Pari, cho những người Châu âu để họ hiểu rõ
bản chất, xấu xa của bọn thdân và bọn PK tay sai (“Vi hành”).
(“Những
trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu”…) Đó là những tp B viết cho các trí thức
yêu nước, cho các vị nhân sĩ để họ hiểu bản chất của cuộc kháng chiến chống
Pháp từ đó động viên họ tích cực thgia cùng đồng bào mình cứu nước. Có những
bthơ vừa phảng phất sắc thái nghệ thuật cổ điển, vừa gợi tới chí khí hào hùng của
cha ông thời trước.
“ Non
nước của ta, ta lấy lại-Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây” (Tặng cụ Đinh Chương
Dương)
Trong ý
thơ đó có bóng dáng ý thơ của Trần Quang Khải.
“Thái
Bình nên gắng sức – Non nước ấy nghìn thu” và ý thơ của Trần Nhân Tông:
“Xã tắc
hai phen chồn ngựa đá-Non sông nghìn thủa vững âu vàng“
* Với tư
cách 1 lãnh tụ CM – Người đứng đầu một đất nước B còn viết những tác phẩm chính
luận cho toàn dân tộc và có khi cho cả thế giới. Đó là những tp được viết vào
những thời điểm lịch sử trọng đại ; “Tuyên ngôn độc lập” (2/9/1945), “Lời kêu gọi
toàn quốc khchiến” (19/12/1946), “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước”
(7/7/1966)
…. Nhìn
chung, những tp đó đều có giọng văn mạnh mẽ, hào hùng, có chứng cứ cụ thể, xác
thực, có lập luận chặt chẽ, đanh thép. Chẳng hạn trong ” TNĐlập ” B đã mở đầu bằng
kiểu lập luận “lấy gậy ông đập lưng ông” ( Nhắc lại tuyên ngôn của Mỹ và Pháp để
ngầm vạch rõ sự sai trái trong mưu toán xâm lược của đế quốc Mỹ và thdân Pháp
đvới nước ta lúc ấy), từ đó Bác khẳng định quan điểm tư tưởng của dân tộc VN:
“Tất cả các dt trên TG đều sinh ra và bình đẳng, dt nào cũng có quyền sống, quyền
sung sướng và quyền tự do”
* Ngoài
ra vốn là người có tâm hồn nghệ sĩ khi có điều kiện, có cảm hứng Bác còn sáng
tác văn thơ cho bản thân mình để thể hiện những ước mơ và khát vọng cs, những
rung động trước cái đẹp ở đời, những suy nghĩ về hiện thực trước mắt . Đó là tập
thơ “Nhật ký trong tù” là tr ngắn viễn tưởng “giấc ngủ 10 năm” , là những bài
thơ B viết về Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp: “Cảnh tượng Việt Bắc”, “Rầm
tháng giêng”, “tin thắng trận”, “đi thuyền trên sống đáy”… B say mê trước vẻ đẹp
thơ mộng của thnhiên nhưng B vẫn không quên vận mệnh của đất nước, cs của đồng
bào.
“Tiếng
suối trong như tiếng hát xa-Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa-Cảnh khuya như vẽ,
người chưa ngủ-Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” ( Cảnh khuya )
- Kết luận
:
Quđiểm nghthuật cũng như các stác văn thơ của B là sự thể hiện chân thật toàn tâm hồn trong sáng, lẽ sống, cao đẹp của người “Người VN đẹp nhất, vĩ đại nhất” ( Lê Duẩn ). Đấy không chỉ là kinh nghiệm quý báu cho những ai yêu thích và say mê văn chương mà đấy còn là bài học sâu sắc cho nhiều người trên đường đời.
Quđiểm nghthuật cũng như các stác văn thơ của B là sự thể hiện chân thật toàn tâm hồn trong sáng, lẽ sống, cao đẹp của người “Người VN đẹp nhất, vĩ đại nhất” ( Lê Duẩn ). Đấy không chỉ là kinh nghiệm quý báu cho những ai yêu thích và say mê văn chương mà đấy còn là bài học sâu sắc cho nhiều người trên đường đời.
TỐ HỮU
1. Những
nét chính về cuộc đời của Tố Hữu:
+ Tố Hữu
tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành sinh 4/10/1920 quê ở Phù Lai, xã Quảng Thọ
huyện Quảng Điền tỉnh Thừa thiên Huế ông sinh ra trong một giđình nhà nho
nghèo. Từ nhỏ Tố Hữu đã học và tập làm thơ.
– THữu giác ngộ CM trong thời kỳ mặt trận dân chủ, trở thành ngừơi lđạo đoàn thanh niên dchủ ở Huế. 8/1945, THữu là chủ tịch uỷ ban khnghĩa ở Huế.
– Sau CMT8 cho đến 1986, Tố Hữu liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong các cơ quan lđạo của Đảng, Nhà nước.
-Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ thống nhất chật chẽ, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp cách mạng, trở thành một bộ phận của sự nghiệp CM. Ông được Nhà nước phong tặng giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật ( Đợt một 1996)
– THữu giác ngộ CM trong thời kỳ mặt trận dân chủ, trở thành ngừơi lđạo đoàn thanh niên dchủ ở Huế. 8/1945, THữu là chủ tịch uỷ ban khnghĩa ở Huế.
– Sau CMT8 cho đến 1986, Tố Hữu liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong các cơ quan lđạo của Đảng, Nhà nước.
-Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ thống nhất chật chẽ, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp cách mạng, trở thành một bộ phận của sự nghiệp CM. Ông được Nhà nước phong tặng giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật ( Đợt một 1996)
2. Con
đường thơ của Tố Hữu gắn liền với chặng đường CM dtộc
+Tố Hữu
đã đạt được những thành tựu trong chặng đường sáng tác. Ông đã nhận được giải
thưởng văn học lớn: Giải nhất giải thưởng văn học hội văn nghệ VN 1954-1955 ( Tập
Việt Bắc); Giải thưởng văn học ASEAN (1996); Giải thưởng HCM về văn học-nghệ
thuật ( đợt một 1996);
+ Thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cách mạng, nên các chặng đường thơ cũng song hành với các giai đoạn của cuộc đấu tranh ấy.
+ Thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cách mạng, nên các chặng đường thơ cũng song hành với các giai đoạn của cuộc đấu tranh ấy.
a. Tập
thơ “từ ấy”(1937-1946) là chặng đường đầu mười năm thơ Tố Hữu cũng là mười
năm hoạt động sôi nổi, say mê từ giác ngộ qua thử thách đến trưởng thành của
người thanh niên cách mạng trong một giai đoạn lịch sử sôi động.
Tập thơ gồm ba phần( tương ứng với ba chặng đường trong mười năm hoạt động của Tố Hữu)
-”Máu lửa”: ca ngợi lý tưởng và kêu gọi quần chúng bị áp bức đứng lên đtranh.
- “Xiềng xích”: ghi lại những cuộc đtranh gay go của những người chiến sĩ cách mạng trong nhà tù thdân. Thể hiện sự trưởng thành vững vàng của người thanh niên cách mạng qua thử thách bộc lộ một tâm hồn yêu đời tha thiết.
-”Giải phóng” : Thể hiện niềm vui chiến thắng, ca ngợi cách mạng thành công.
Tập thơ gồm ba phần( tương ứng với ba chặng đường trong mười năm hoạt động của Tố Hữu)
-”Máu lửa”: ca ngợi lý tưởng và kêu gọi quần chúng bị áp bức đứng lên đtranh.
- “Xiềng xích”: ghi lại những cuộc đtranh gay go của những người chiến sĩ cách mạng trong nhà tù thdân. Thể hiện sự trưởng thành vững vàng của người thanh niên cách mạng qua thử thách bộc lộ một tâm hồn yêu đời tha thiết.
-”Giải phóng” : Thể hiện niềm vui chiến thắng, ca ngợi cách mạng thành công.
b. Tập
thơ” Việt bắc” (1947-1954): là chặng đường thơ Tố Hữu trong những năm
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tập thơ ca ngợi cuộc kháng chiến, con
người kháng chiến, đồng thời phản ánh những gian lao của quân và dân, lòng anh
dũng . Sự trưởng thành của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ dã đưa
cuộc kháng chiến đến ngày thắng lợi (cá nước, lên Tây bắc, Việt bắc, Bầm ơi, Lượm…)
- Nội dung:
+ Là bản hùng ca về cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ mà anh hùng.
+ Ca ngợi những con người kháng chiến: Đảng và Bác Hồ, anh vệ quốc quân,
bà mẹ nông dân, chị phụ nữ, em liên lạc…
+ Nhiều tình cảm sâu đậm được thể hiện: tình quân dân, miền xuôi và miền
ngược, tình yêu đất nước, tình cảm quốc tế vô sản,….
- Tập thơ Việt Bắc là một trong những thành tựu xuất
sắc của VH kháng chiến chống Pháp.
- Tác phẩm tiêu
biểu: Việt Bắc, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Phá đường,….
c. Tập
thơ “gió lộng”( 1955-1961): Là tiếng hát ca ngợi cuộc sống mới XHCN ở miền
bắcvà bộc lộ tình cảm tha thiết với miền nam, đồng thời thể hiện ý chí thống nhất
đất nước, tình cảm qutế vô sản với các dân tộc anh em trong niềm vui, THữu
không quên nhớ về quá khứ để thấm thía những khổ đau của ông cha ( mùa thu tới,
ba mươi năm đời ta có Đảng, quê mẹ…).
- Nội dung:
+ Thể
hiện niềm vui lớn lao khi miền Bắc bước vào xây dựng Chủ nghĩa xã hội.
+ Tình cảm thiết tha, sâu nặng với miền Nam và quốc tế vô sản.
- Niềm vui ấy đem
đến cho tập thơ cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi đậm nét.
- Tác phẩm tiêu
biểu : Mẹ Tơm, Bài ca xuân 61, Ba mươi
năm đời ta có Đảng,…
d. Tập
thơ ” Ra trận”(1962-1971) và ” Máu và hoa”( 1972-1977).
Là hai tập thơ ra đời trong thời kỳ cả nước chiến đấu kiên cường, giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Cả hai tập thơ khẳng định phẩm chất con người Việt nam , đồng thời là khúc ca khải hoàn kết thúc cuộc chiến đấu, Bắc Nam một nhà, non sông liền một dải.
Là hai tập thơ ra đời trong thời kỳ cả nước chiến đấu kiên cường, giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Cả hai tập thơ khẳng định phẩm chất con người Việt nam , đồng thời là khúc ca khải hoàn kết thúc cuộc chiến đấu, Bắc Nam một nhà, non sông liền một dải.
- Nội dung:
+ Ra trận: bản hùng ca về
miền Nam, những hình ảnh tiêu biểu cho dũng khí kiên cường của dân tộc (anh giải
phóng quân, ngươờithợ điện, em thơ hoá anh hùng, anh công nhân, cô dân quân…)
+ Máu và hoa:
o Ghi lại
chặng đường cách mạng đầy gian khổ
o Niềm tin
sâu sắc vào sức mạnh của quê hương, con người Việt Nam.
- Cổ vũ, ca ngợi chiến đấu, mang đậm tính thời sự.
- Tác phẩm tiêu biểu: Bài ca Xuân 68, Kính gởi cụ Nguyễn Du, Theo chân Bác, Nước non ngàn dặm,…
đ. Một tiếng đờn (1992 ), Ta với ta (1999).
- Giọng thơ trầm lắng, đượm chất
suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời và con người.
- Niềm tin vào lí tưởng và con đường cách mạng,
tin vào chữ nhân luôn toả sáng ở mỗi
hồn người.
<=> Như vậy, con đường thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với các chặng đường cách mạng ViệtNam . Mỗi tập thơ là một chặng trên
con đường đó. Nhan đề của từng tập thơ đã thể hiện ý nghĩa khái quát nội dung
tư tưởng nghệ thuật của riêng toàn bộ tập thơ.
<=> Như vậy, con đường thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với các chặng đường cách mạng Việt
. Phong
cách nghệ thuật:
Thơ Tố Hữu đã kế tục dòng thơ ca cách mạng từ đầu
thế kỷ 20 nhưng có đổi mới rất nhiều. Tố Hữu đã đưa vào thơ cách mạng một tiếng
nói trữ tình mới, với những cảm xúc mang tính cụ thể, trực tiếp, cảm tính của
cái tôi cá thể, nhưng là một con người hòa với mọi người trong cuộc đấu tranh
cách mạng. Do vậy, Tố Hữu có một phong cách thơ rõ rệt.
- Về nội dung:
a/ Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình - chính trị. Mọi sự kiện, vấn đề lớn của đời sống cách mạng, lý tưởng chính trị, những tình cảm chính trị thông qua trái tim nhạy cảm của nhà thơ đều có thể trở thành đề tài và cảm hứng nghệ thuật thực sự. Tố Hữu là nhà thơ của những tình cảm lớn, niềm vui lớn của cách mạng và con người cách mạng.
b/ Nội dung trữ tình - chính trị trong thơ Tố Hữu thường tìm đến và gắn liền với khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn. Khuynh hướng sử thi nổi bật trong những sáng tác tù cuối cuộc kháng chiến chống Pháp trở về sau. Nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu là con người thể hiện tập trung những phẩm chất của giai cấp, dân tộc, đến cuộc kháng chiến chống Mỹ được nâng lên thành những hình tượng anh hùng, mang tầm vóc thời đại và lịch sử, nhiều khi được thể hiện bằng bút pháp thần thoại hóa. Cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lãng mạn. Thơ Tố Hữu hướng vào tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và niềm say mê với con đường cách mạng, ngợi ca nghĩa tình cách mạng và con người cách mạng. c/ Một nét đặc sắc của thơ Tố Hữu là có giọng điệu riêng rất dễ nhận ra. Đó là giọng tâm tình, ngọt ngào tha thiết, giọng của tình thương mến. Giọng điệu ấy có phần được thừa hưởng từ điệu tâm hồn con người xứ Huế với những câu ca, giọng hò tha thiết, ngọt ngào của quê hương. Nhưng nó cũng được xuất phát từ một quan niệm của nhà thơ: "Thơ là chuyện đồng điệu (...) Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí".
- Về nghệ thuật: Kế tục truyền thống thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca dân gian và thơ cổ điển, thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc cả trong nội dung và nghệ thuật biểu hiện.
- Về nội dung:
a/ Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình - chính trị. Mọi sự kiện, vấn đề lớn của đời sống cách mạng, lý tưởng chính trị, những tình cảm chính trị thông qua trái tim nhạy cảm của nhà thơ đều có thể trở thành đề tài và cảm hứng nghệ thuật thực sự. Tố Hữu là nhà thơ của những tình cảm lớn, niềm vui lớn của cách mạng và con người cách mạng.
b/ Nội dung trữ tình - chính trị trong thơ Tố Hữu thường tìm đến và gắn liền với khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn. Khuynh hướng sử thi nổi bật trong những sáng tác tù cuối cuộc kháng chiến chống Pháp trở về sau. Nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu là con người thể hiện tập trung những phẩm chất của giai cấp, dân tộc, đến cuộc kháng chiến chống Mỹ được nâng lên thành những hình tượng anh hùng, mang tầm vóc thời đại và lịch sử, nhiều khi được thể hiện bằng bút pháp thần thoại hóa. Cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lãng mạn. Thơ Tố Hữu hướng vào tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và niềm say mê với con đường cách mạng, ngợi ca nghĩa tình cách mạng và con người cách mạng. c/ Một nét đặc sắc của thơ Tố Hữu là có giọng điệu riêng rất dễ nhận ra. Đó là giọng tâm tình, ngọt ngào tha thiết, giọng của tình thương mến. Giọng điệu ấy có phần được thừa hưởng từ điệu tâm hồn con người xứ Huế với những câu ca, giọng hò tha thiết, ngọt ngào của quê hương. Nhưng nó cũng được xuất phát từ một quan niệm của nhà thơ: "Thơ là chuyện đồng điệu (...) Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí".
- Về nghệ thuật: Kế tục truyền thống thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca dân gian và thơ cổ điển, thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc cả trong nội dung và nghệ thuật biểu hiện.
a/ Về thể thơ, Tố Hữu sử dụng nhuần nhuyễn
các thể thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, bốn chữ, năm chữ, bảy chữ...)
và có những sáng tạo độc đáo làm phong phú thêm cho các hình thức thơ ca này.
b/ Trong thơ Tố Hữu ta có thể bắt gặp một cách phổ biến những lối so sánh, các phép chuyển nghĩa và cách diễn đạt trong thơ ca dân gian đã trở nên quen thuộc với tâm hồn người Việt. Chiều sâu của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu là ở nhạc điệu, đặc biệt phong phú về vần và những phối âm trầm bổng nhịp nhàng nên dễ ngâm, dễ thuộc.
* Kết luận: Như vậy, phong cách thơ Tố Hữu rất đa dạng, đã kế tục truyền thống thơ ca dân tộc, kết hợp được một cách nhuần nhị hai yếu tố: cách mạng và dân tộc trong nghệ thuật. Sức thu hút của thơ Tố Hữu ch ính là ở niềm say mê lý tưởng và đậm đà tính dân tộc.
b/ Trong thơ Tố Hữu ta có thể bắt gặp một cách phổ biến những lối so sánh, các phép chuyển nghĩa và cách diễn đạt trong thơ ca dân gian đã trở nên quen thuộc với tâm hồn người Việt. Chiều sâu của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu là ở nhạc điệu, đặc biệt phong phú về vần và những phối âm trầm bổng nhịp nhàng nên dễ ngâm, dễ thuộc.
* Kết luận: Như vậy, phong cách thơ Tố Hữu rất đa dạng, đã kế tục truyền thống thơ ca dân tộc, kết hợp được một cách nhuần nhị hai yếu tố: cách mạng và dân tộc trong nghệ thuật. Sức thu hút của thơ Tố Hữu ch ính là ở niềm say mê lý tưởng và đậm đà tính dân tộc.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét