Thứ Ba, 6 tháng 2, 2018

Ôn thi bài Đất Nước

. KIẾN THỨC CƠ BẢN
  A. Tác giả
    1. TIỂU SỬ
–        Sinh năm 1943, tại Thừa Thiên-Huế trong một gia đình cách mạng.
–        Tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
–        Năm 1964, trở về quê hương tham gia chiến đấu, từng bị địch bắt giam
–        Sau năm 1975 hoạt động văn nghệ và công tác chính trị tại thành phố Huế.
–        Ông từng là Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, bộ trưởng Bộ Văn hoá – thông tin.
   2. SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
–        Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ, có những đóng góp nổi bật cho thơ ca Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
–        Thơ ông giàu chất suy tư, trầm lắng, cảm xúc dồn nén, thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến.
–        Tác phẩm tiêu biểu: Đất ngoại ô, trường ca Mặt đường khát vọng, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm…
 B. Đoạn trích ĐẤT NƯỚC
1.      HOÀN CẢNH SÁNG TÁC:
- Sáng tác vào mùa đông năm 1971, tại chiến trường Trị – Thiên. Đây là thời điểm mà cuộc chiến tranh chống Mỹ đang hồi quyết liệt.
- Trích chương V trong trường ca “Mặt đường khát vọng” (1971).
- “ Mặt đường khát vọng” là bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm bị chiếm miền Nam, nhận rõ bộ mặt xâm lược của Đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân, đất nước, xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu chung của dân tộc.
2.      ĐỀ TÀI:
- ĐẤT NƯỚC là đề tài quen thuộc, phổ biến trong thơ ca, nhạc họa…
- Đối với các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ, đề tài Đất nước được cảm nhận theo cách riêng mang dấu ấn của sự trải nghiệm bằng cuộc sống của chính mình.
- Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã dóng góp một tiếng nói rất riêng về đề tài quen thuộc này.
3.      Bố cục: 2 phần:
- Phần 1: từ đầu đến Làm nên đất nước muôn đời à Cách cảm nhận và lý giải của nhà thơ về đất nước.
- Phần 2 ( còn lại): Nhà thơ khẳng định Đất nước là của nhân dân.
C.     NỘI DUNG
1.      Cảm nhận và lý giải của nhà thơ về đất nước
a.      Đất nước có từ bao giờ? Đất nước ở đâu?
–        Đất nước có trong nhận thức, tình cảm của mỗi người như một điều hiển nhiên “ Khi ta lớn lên dất nước đã có rồi”.
–        Đi tìm nguồn cội của Đất nước nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận đất nước có từ xa xưa:
·         Từ trong những câu chuyện cổ tích Ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể.
·         Đất nước bắt đầu với những phong tục rất đẹp của dân tộc khi nền văn minh sông Hồng mới hình thành “ miếng trầu bà ăn”, “  tóc mẹ thì búi sau đầu”.
    + Hình ảnh “ miếng trầu” tượng trưng cho phong tục tập quán đẹp của của người Việt _ đó là miếng trầu của lòng hiếu khách “ Miếng trầu là đầu câu chuyện”, miếng trầu tình duyên thắm đượm” Miếng trầu nên dâu nhà người”, miếng trầu của tình vợ chồng, tình anh em…trong Sự tích trầu cau.
   + Hình ảnh “búi tóc” không chỉ là phong tục tập quán của người Việt mà còn là một quan niệm về thẩm mỹ của người Việt xưa.
·         Đất nước “lớn lên” từ những ngày đầu đánh giặc giữ nước của chàng trai Phù Đổng thuở xưa “ Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc”
·         Đất nước bắt nguồn từ những vần ca dao tình nghĩa, từ lới sống ân nghĩa thủy chung của dân tộc ta “ cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”à Lấy ý từ:
Tay bưng đĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

Muối ba năm muối đương còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Dù ba vạn sáu ngàn ngày cũng nỏ xa
–        Đất nước có trong những sự vật gần gũi, thân thương, bình dị gắn bó với đời sống của con người Việt Nam (Miếng trầu, búi tóc,cái kèo, cái cột, hạt gạo…).
ð     Nhận xét:
- Với những chất liệu lấy từ văn học dân gian, văn hóa dân tộc, từ nhũng sự vật nhỏ bé, quen thuộc trong đời sống, Nguyễn Khoa Điềm đã cảm nhận Đất nước có cội nguồn từ xa xưa, có trong chiều sâu của nền văn hóa dân tộc, trong bề dày của văn học dân gian và ngay trong những sự vật gần gũi với mỗi người, mỗi gia đình. Đất nước trong cảm nhận của nhà thơ thật gần gũi, dung dị, đời thường.
- Qua đoạn thơ, tác giả bày tỏ niềm tự hào về một đất nước có một nền văn hóa lâu đời mang những nét đặc thù riêng.
b.      Đất nước là gì?
v     Đất nước là  không gian địa lý mênh mông, bao la:
- Trong không gian cụ thể, gần gũi, gắn bó với kỷ niệm, với tình yêu của mỗi người:
+ Đất là nơi anh đến trườngà không gian quen thuộc gắn liền với thời thơ ấu của mỗi người.
+ Nước là nơi em tắm à Không gian nhỏ bé,gần gũi trong đời sống, phải chăng còn gợi liên tưởng những giếng làng, những ao hồ, sông nước của làng quê VN?
+Đất nước là nơi ta hò hẹn…là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầmàKhông gian gần gũi gắn liền với kỉ niệm tình yêu đôi lứa. Câu thơ mang hơi thở dân gian, gợi nhớ bài ca dao Khăn thương nhớ ai…
- Trong không gian mênh mông, bao la gắn liền với đời sống của một dân tộc àLà những không gian quen thuộc mà thiêng liêng, lớn lao:
+ Lãnh thổ của một quốc gia: Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”/ Nước là nơi “con cá như ông móng nước biển khơi”àMượn lời bài dân ca Bình Trị Thiên nhà thơ cảm nhận về đất nước với niềm tự hào vô hạn về một quốc gia có chủ quyền. Ý thơ gợi nhớ bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong văn học nước nhà “ Sông núi nước Nam” của Lý Thường kiệt.
      + Không gian  sinh tồn của cộng đồng dân tộc “ Đất nước là nơi dân
         mình đoàn tụ”.
v     Đất nước là thời gian lịch sử “ đằng đẵng” của quá khứ, hiện tại và tương lai:
- Là nơi phát sinh, phát triển của một cộng đồng dân tộc từ thuở sơ khai “ Đất là nơi Chim về/ Nước là nơi Rồng ở/ Lạc Long Quân và Âu Cơ/Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng” àLấy chất liệu từ những huyền thoại của văn học dân gian.
- Là bề dày lịch sử dân tộc trong quá khứ của Những ai đã khuất/Những ai bây giờ…Dặn dò con cháu chuyện mai sauà Đất nước mang tính chất kế tục và vĩnh hằng.
v     Nhà thơ còn nhắn nhủ “ Hằng năm ăn đâu…..cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”à Ý thơ không chỉ là lời nhắn nhủ mà còn là “cầu nối” cho đoạn thơ sau.
v     Nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn thơ:
- Lấy chất liệu từ văn học dân gian ( ca dao, dân ca, huyền thoại…)
- Tách rời hai thành tố ĐẤT/NƯỚC sau đó kết hợp lại để khẳng định đất nước rất bình dị, gần gũi với mọi người nhưng đồng thời cũng rất thiêng liêng, cao quý,toàn vẹn.
- Chất trữ tình- chính luận, hiện đại với thể thơ tự do.
c. Trách nhiệm của mỗi người đối với Đất nước “ Trong anh …..làm nên Đất nước muôn đời”
- Đất nước có trong anh và em, trong bản thân của mỗi con người “ Trong anh và em…hài hòa nồng thắm/ Khi chúng ta…vẹn tròn to lớn”à Đất nước được cụ thể hóa bằng những hình ảnh thơ gợi cảm, là lời kêu gọi tinh thần đoàn kết dân tộc, là lời nhắc nhở về ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với Đất nước.
-  Đất nước là máu xương của mỗi người “Em ơi em Đất nước là máu xương của mình”àcách cảm, cách nghĩ mới mẻ của những nhà thơ thời kháng chiến:
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay ( Hoàng Cầm)

Tình yêu Tổ quốc là đỉnh núi bờ sông
Đến lúc tột cùng là dòng huyết chảy ( Xuân Diệu)

Ôi, Tổ quốc ta yêu như máu thịt…( Chế Lan Viên)

- Vì vậy mỗi người đề có trách nhiệm đối với Đất nước” Phải biết gắn bó và san sẻ/Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở…”à Cách sử dụng từ ngữ gợi trách nhiệm cụ thể của mọi người đối với đất nước – xây dựng, bảo vệ đất nước, khi cần thiết phải biết hi sinh vì Tổ quốc.
- Điệp ngữ” phải biết”à Như một lời nhắn nhủ và cũng là lời tự nhủ.
- Nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn thơ:
+ Giọng thơ nhắn nhủ, tâm tình, tha thiết.
+ Ngôn ngữ bình dị, gần gũi như một lời trò chuyện.
+ Chất trữ tình-chính luận
ð     Tác động đến tư tưởng, tình cảm của thế hệ trẻ vùng đô thị bị tạm chiếm ở miền Nam.
2.      ĐẤT NƯỚC CỦA AI?
a. Nhà thơ khẳng định “ Đất nước này là đất nước của nhân dân”à Đây là điểm quy tụ mọi cách nhìn về Đất nước trong phần này, là tư tưởng cốt lõi, cũng là đỉnh điểm của cảm xúc trữ tình của chương Đất nước. Đất nước này là đất nước của nhân dân vì:
v     Nhân dân là người làm nên những cảnh quan thiên nhiên của đất nước:
- Tác giả kể những tên núi, tên sông, địa danh: núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm...--> tất cả đều xuất phát từ cuộc đời, từ số phận của nhân dân. Những cảnh quan thiên nhiên kì thú gắn liền với cuộc sống của nhân dân, nó chỉ trở thành thắng cảnh khi đã gắn liền với con người, được tiếp nhận, cảm thụ qua tâm hồn nhân dân và qua lịch sử của dân tộc.
- Nhà thơ có phát hiện mới mẻ, những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử trở nên thiêng liêng khi nó gắn với phẩm chất, tâm hồn, số phận của nhân dân: Gót ngựa Thánh Gióng đi qua….Chín mươi chín con voi…Những con rồng…Con cóc, con gà…Người học trò nghèo…..núi Bút, non Nghiêng”.
- Đoạn thơ quy nạp hàng loạt những hiện tượng cụ thể để đưa đến một khái quát sâu sắc :” Và ở đâu trên khắp…..hóa núi sông ta” -> Nhân dân đã hóa thân để làm nên Đất Nước.
v     Nhân dân là người làm nên lịch sử của đất nước, là người gìn giữ, bảo vệ đất nước, là người truyền lại cho các thế hệ đời sau truyền thống văn hóa của dân tộc:
- Khi nhìn vào “bốn nghìn năm Đất Nước”, Nguyễn Khoa Điềm không ca ngợi những anh hùng hữu danh, không điểm lại các triều đại hưng thịnh mà nhấn mạnh đến  những con người “giản dị và bình tâm. Không ai nhớ mặt đặt tên. Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”.
-  Không ai khác, chính nhân dân đã gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau mọi giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của Đất Nước: hạt lúa (nghề trồng lúa nước), ngọn lửa “ Truyền lửa cho mỗi nhà….con cúi”, tiếng nói “ Truyền giọng điệu…tập nói”, bản sắc văn hóa các vùng miền “ Gánh theo tên xã tên làng…”…
- Và nhân dân cũng là người:“Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm. Có nội thù thì vùng lên đánh bại” để tạo dựng chủ quyền, xây dựng và bảo vệ Đất Nước để các thế hệ mai sau kế thừa và tiếp tục dựng xây, phát triển.
v      Khi khẳng định “ Đất Nước là của nhân dân” nhà thơ ca ngợi, tự hào về những phẩm chất của dân tộc:
- Khi khẳng định “Đất Nước của Nhân dân”, tác giả đã trở về với ngọn nguồn phong phú, đẹp đẽ của văn hóa, văn học dân gian mà tiêu biểu là ca dao “ Đất nước của ca dao thần thoại”.  Ca dao chính là diện mạo tinh thần, là nơi lưu giữ đời sống tâm hồn tình cảm của nhân dân qua bao thế hệ. - Nguyễn Khoa Điềm đã chọn ra từ kho tàng thơ ca dân gian ba nét đẹp tiêu biểu nhất của tâm hồn Việt, của bản sắc văn hóa Đất Nước:
+ Say đắm trong tình yêu” Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi”à Yêu em từ thuở trong nôi/Em nằm em hóc anh ngồi anh ru.(ca dao)
+ Quý trọng tình nghĩa  “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”à Cầm vàng mà lội qua sông/ Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng.( ca dao)
+ Kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh” Biết trồng tre….dài lâu”à Thù này ắt hẳn còn lâu/ Trồng tre thành gậy gặp đâu đáng què. (ca dao)
b.      Nghệ thuật đặc sắc của đoạn thơ:
- Đậm chất trữ tình- chính luận.
- Vận dụng sáng tạo ca dao, dân ca : không lặp lại nguyên văn mà chỉ sử dụng ý và hình ảnh của câu ca dao.
c. Liên hệ:
- Tư tưởng Đất nước của nhân dân đã manh nha từ văn học trung đại ( Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu…).
- Trong văn học hiện đại, đặc biệt là văn học cách mạng, tư tưởng ấy được kế thừa và phát huy trên tinh thần của con người trong thời đại mới. Những nhận thức về nhân dân và cảm hứng về đất nước mang tính dân chủ cao.
- Nguyễn Khoa Điềm đã đóng góp them một thành công trong dòng thơ về đất nước thời kháng chiến chống Mỹ, làm sâu sắc thêm nhận thức về nhân dân, về đất nước.
D.    NHẬN XÉT CHUNG:
1. Về nội dung:
-  Đoạn trích thể hiện cảm nghĩ mới mẻ của tác giả về đất nước qua những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện : lịch sử, địa lí, văn hóa,…
-  Đóng góp riêng của đoạn trích là ở sự nhấn mạnh tư tưởng “ Đất Nước là của nhân dân”  
2.Về nghệ thuậtà Đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích ĐẤT NƯỚC:  
-          Thể thơ tự do như văn xuôi.
-          Tách rời hai thành tố Đất và Nước.
-          Vận dụng sáng tạo nhiều chât liệu lấy từ ca dao, dân ca, truyện cổ, huyền thoại…
-          Dùng đại từ TA, EM, ANH linh hoạt, chuyển hóa vào nhau.
=> Chất trữ tình thiết tha, chất chính luân sâu sắc. 
       3.  Nét đặc sắc trong cảm nhận của nhà thơ về ĐẤT NƯỚC 
- Cái nhìn tổng hợp, toàn vẹn, mang đậm tư tưởng nhân dân.
- Vận dụng văn học dân gian, văn hóa dân gianà Tạo ra không khí, giọng điệu, không gian nghệ thuật riêng của ca dao, thần thoại, truyền thuyết, văn hóa dân gianà nét đặc sắc thẩm mỹ của đoạn trích.
-  Vẫn mới mẻ qua cách cảm nhận và tư duy hiện đại với hình thức thể thơ tự do.
  E. Ý NGHĨA
–        Bài thơ thể hiện một cách cảm nhận mới về đất nước của tác giả, qua đó khơi dậy lòng yêu nước, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam.
–        Nhà thơ ca ngợi truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước đánh giặc của dân tộc và khẳng định, bộc lộ tư tưởng Đất Nước của nhân dân.
II.  LUYỆN TẬP
1.      Phân tích các đoạn thơ sau đây trong bài thơ ĐẤT NƯỚC của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm:

a.      Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi…
                    Đất Nước có từ ngày đó.
b.      Đất là nơi anh đến trường…
                    Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.
c.       Trong anh và em hôm nay…
                    Làm nên Đất Nước muôn đời.
d.      Những người vợ nhớ chồng…
                   Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…
2.Trình bày hoàn cảnh sáng tác và nội dung chính  của bài thơ Đất nước
         3.   Nêu những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Đất Nước.
        4.  Trình bày nét độc đáo, mới mẻ trong cách cảm nhận về Đất Nước của
              nhà thơ Nguyễn Khoa  Điềm.
        5.Trình bày những hiểu biết của em về nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và hoàn
cảnh sáng tác, mục đích sáng tác của trường ca Mặt đường khát vọng.
III. THAM KHẢO

1.Lời kể của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về hoàn cảnh ra đời tác phẩm  : “Chương V là một chương lớn. Nhà trường phổ thong chọn chương này để giảng dạy tôi nghĩ là hợp lí. Tôi viết chương này trong những ngày mưa triền mien sau Tết. Đó là thời kì máy bay Mĩ đánh phá dữ dội. B52 giội liên tục, làm cho mọi thứ tối tăm mù mịt. Chúng tôi ngồi trong hầm và viết, cảm xúc được cộng hưởng bởi tiếng bơm nổ, bởi khói bom và mưa rừng. Có khi viết xong, một trận bom làm cho bản thảo bay tung tóe, lượm lại trang còn trang mất, lại ngồi viết tiếp. Tôi viết rất nhanh, như cảm xúc đã dồn tụ một cách mãnh liệt giờ chỉ có việc tuôn chảy ra thôi. Tôi viết về những điều giản dị của chính tôi, về tuổi trẻ và các bạn bè đang tranh đấu ở trong thành phố. Nên nhân vật của tôi là anh và em. Đó là lời đằm thắm của một người con trai nói với một người con gái. Chúng tôi, mỗi người có một số phận khác nhau nhưng đều gắn kết trong một số phận chung là số phận Đất nước. Đất nước với các nhà thơ khác là của những huyền thoại, của những anh hùng, nhưng với tôi là của những con người vô danh, của bản thân.”
2. Qua bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm anh/ chị hãy làm sáng tỏ quan điểm Đất nước  của nhân dân của tác giả
Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ như Lê Anh Xuân, Bằng Việt, Nguyễn Mĩ, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh… Nguyễn Khoa Điềm nổi tiếng với hai tác phẩm là trường ca “Mặt đường khát vọng” và bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”.
Nguyễn Khoa Điềm cũng như một số nhà thơ hàng đầu của thế hệ ông đã cảm nhận sâu sắc thời điểm lịch sử trang nghiêm nên đã để tâm huyết vào chủ đề lớn của thơ ca là đất nước. Và tất nhiên để phù hợp với nội dung phong phú, rộng lớn đó, phải có một hình thức có dung lượng lớn là trường ca. Cho nên nhiều trường ca đã ra đời trong giai đoạn văn học này mà nổi tiếng hơn cả là ba trường ca “Những người đi tới biển” của Thanh Thảo, “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh và “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm.
“Đất nước” là một đoạn trích thuộc phần đầu chương V – chương trọng tâm của trường ca “Mặt đường khát vọng”, (chương năm), là chương trong tâm của tác phẩm. Tác giả tập trung trong chương thơ này là những cảm nhận và suy nghĩ sâu sắc về đất nước: “Đất nước này là Đất Nước Nhân Dân”.
Nhận thức mới mẻ ấy cũng chính là sự lựa chọn, ý thức về trách nhiệm của thế hệ trẻ đốivới đất nước và dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất nước nhà.
Nguyễn Khoa Điềm kết hợp giữa trữ tình và chính luận, lối kết hợp này trong thơ giống Chế Lan Viên (thường các nhà thơ tự sáng tác những bài thơ dài và trường ca đều kết hợp giữa trữ tình và tự sự). Trữ tình – Chính luận phát huy đựơc mặt trí tuệ, thể hiện sự uyên bác với những kến thức sách vở triết lí, nếu biết khéo léo kết hợp với xúc cảm, với tri thứ nhỡn kiến thì sẽ tạo ra sự hấp dẫn lạ lùng cho thơ.
Ta có thể hình dung chính luận trong khúc trường ca này như một sợi dây: Đất nước trườngtồn trong chiều dài thời gian, trong chiều rộng không gian, trong phong tục tập quán, trong tâm hồn và tính cách của người Việt. Bằng sợi dây dẻo dai ấy, những hạt cườm trữ tình óng ánh, lung linh được xâu lại thành chuỗi cườm “Đất Nước muôn đời”.Ta hãy xem nghệ thuật xâu cườm dẻo dai, cần mẫn, khéo léo của thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể.
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
Điệp ngữ “Đất Nước” vọng lên khúc nhạc thiêng liêng. Thiêng liêng về thời gian thăm thẳm “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”, thiêng liêng với cổ tích, thiêng liêng với “miếng trầu bây giờ bà ăn”, thiêng liêng với sự trưởng thành về ý thức bảo vệ Tổ quốc:
“Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
Nhờ “sợi chỉ” chính luận mà những “hạt cườm” của đời sống vật chất (miếng trầu, cây tre, tóc, cái kèo cái cột, hạt gạo…) và đời sống tinh thần (chuyện cổ tích, cha mẹ thương nhau…) được xâu lại tạo ra hết bất ngờ này đến bất ngờ khác:
“Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”
Tác giả chuyển từ những câu kể sang những câu đẳng thức, từ những chi tiết xa xôi đến những chi tiết gần gũi đậm đặc trữ tình. Ca dao thấm trong từng lời:
“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”
“Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”
Nếu thời gian hiện lên trong “chuỗi cườm” trữ tình – chính luận thật là thiêng liêng thì không gian hiện lên thơ mộng, hùng vĩ:
“Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
… Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”
Để mở rộng khái niệm đất nước, tăng cường bề dày, bề sâu của khái niệm này, tác giả điệp lại kiểu câu đẳng thức “Đất là…”, “Nước là…” nhưng các hình ảnh của xúc cảm, của ý tưởng đều mới, giống như những biến tấu trong âm nhạc vừa nhấn mạnh chủ đề, vừa mở rộng chủ đề gây ấn tượng mới lạ.
Luận lí của mạch chính luận là từ xa đến gần, từ khái quát đến cụ thể, từ ngoài vào trong, từ cộng đồng đến cá nhân:
“Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn”
Những suy nghĩ về đất nước trong mỗi cá nhân càng sâu sắc thì giọng điệu trữ tình càng thống thiết:
“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…”
Để dẫn đến những suy luận về sự trường tồn của đất nước, nhà thơ đã huy động vốn kiến thức của sách vở, của đời sống, của lịch sử, địa lí, của truyền thuyết, của ca dao, của phong tục tập quán… Mỗi chi tiết đều có tính thẩm mĩ và được nuôi dưỡng trong xúc cảm của nhà thơ, cho nên suy luận thơ của tác giả vừa có sức thuyết phục về trí tuệ lại vừa truyền cảm.
Sang đoạn hai, nhà thơ phát triển và mở rộng chủ đề Đất Nước để dẫn đến chiều sâu của khái niệm này là “Đất Nước Nhân dân”.
Vẫn là mạch trữ tình – chính luận, nhưng trên sợi chỉ chính luận, ta nhận ra những hạt cườm có màu sắc và hình dạng khác. Trên kia là những hình ảnh của “Đất Nước đã có rồi” và đây là những hình ảnh của con người các thời đại “góp cho Đất Nước”. Phẩm chất thi sĩ biểu hiện ở sự lựa chọn những “hạt cườm” để xâu vào sợi dây chính luận ấy.
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
 Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên”
 … Những tên đất, tên núi, tên sông, sự tích, những truyền thuyết đều gắn bó máu thịt trong một cơ thể thống nhất. Vừa mới thấy “những núi Vọng Phu” đâu như ở Bình Định (mà núi Vọng Phu trên đất nước ta nơi nào chẳng có) đã thấy “hòn Trống Mái” ở Sầm Sơn (Thanh Hoá), vừa mới thấy “gót ngựa của Thánh Gióng” suốt dọc đường từ Bắc Ninh đến Lạng Sơn đã thấy “những con rồng” xanh thẳm ở Nam Bộ (sông Cửu Long). Những “núi Bút, non Nghiên” ở xứ Quảng, những “con cóc, con gà” ở Hạ Long, nhưng “Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm” đều góp phần tạo ra “một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”. Đất nước thống nhất trong máu thịt, trong xương tuỷ, trong tình cảm, trong ước vọng như thế, kẻ thù nào chia cắt được!
Nhưng đó chỉ là một khía cạnh tư tưởng chủ đề của khúc trường ca này. Những dòng khái quát sau đây mới là dòng mạch chính của chủ đề tác phẩm:
“Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”
Rồi nhà thơ chuyển từ bút pháp sử thi sang giọng điệu trữ tình, nhà thơ tâm tình với “em” mà tìm sự đồng cảm của hết thảy chúng ta:
“Em ơi em Hãy nhìn rất xa
Vào bốn nghìn năm Đất Nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con…”
Càng nhìn sâu vào “bốn nghìn năm Đất Nước”, nhà thơ càng thấm thía với công lao xây dựng, vun đắp, bảo vệ đất nước. Đặc biệt là lớp người tuổi trẻ, những “con gái, con trai bằng tuổi chúng ta” đã làm cho nhà thơ xúc động mãnh liệt. Có lẽ đây là trực cảm của nhà thơ đối với lớp thanh niên trong thời kì chống Mĩ cứu nước:
“Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”.
Chính những người anh hùng vô danh ấy đã “giữ và truyền” cho ta từ hạt lúa đến ngọn lửa, từ ngôn ngữ đến hành động:
“Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân Dân”
Như vậy là theo mạch chính luận và suy tưởng, tác giả đã dẫn dắt đến chiều sâu chủ đề khúc trường ca. Nhưng tác giả không dừng ở phát hiện “Đất Nước này là Đất Nước Nhân Dân” mà còn muốn cho khái niệm này ngân vang lên trong thần thoại, trong cổ tích, trong ca dao dân ca. Khúc trường ca không bị khô khốc trong triết lí mà trở nên hồn nhiên, tươi mát, huyền ảo:
“Đất Nước của Nhân Dân,
Đất Nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu…”
“Đất nước” là một trích đoạn hay trong bản trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm. Bằng trữ tình – chính luận, tác giả đã khéo léo dẫn dắt đến chủ đề sâu sắc là Đất Nước Nhân Dân. Xúc cảm trực tiếp, mãnh liệt từ cuộc chiến đấu sinh tử của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mĩ mà tác giả đã huy động tình cảm, trí tuệ, kiến thức về địa lí, lịch sử, văn học, đặc biệt là văn học dân gian để diễn tả sức mạnh thần kì của Nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Một “Đất Nước Nhân Dân” tươi đẹp và thần kì như thế sẽ chiến thắng bất kì kẻ thù xâm lược nào.
3.      Phân tích đoạn thơ: Khi ta lớn lên ….Đất nước có từ ngày đó
…….
 Giọng thơ thủ thỉ,chân thành mà sâu lắng ấy đã chuyển tải suy ngẫm của nhà thơ về Nhân Dân - Đất Nước. Đất Nước đã có từ lâu,rất lâu rồi. Khi ta oa oa cất tiếng khóc chào dời, lớn lên và trưởng thành thì đất nước đã có rồi.Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm bắt nguồn từ những huyền thoại : “Ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”giờ còn đọng lại trong tiềm thức với cô Tấm ngoan hiền, với sự tích bánh chưng bánh dày, bà tiên nhân hậu hay mụ dì ghẻ độc ác,…Hình ảnh Đất Nước vừa hiện lên vừa giản dị gần gũi ,vừa thiêng liêng sâu lắng bởi nó gắn với thế giới tâm hồn con người ,được nuôi dưỡng từ thưở thơ  
…..
Trong kho tàng văn học dân gian ,nhà thơ đã chọn ra hai câu chuyện để khắc hoạ hình ảnh đất nước bằng chính những cảm nhận sâu sắc của mình . “Đất Nước bắt đầu” một câu thơ lí giải sự hình thành đất nước gắn liền với câu chuyện cổ tích cầu trau. Đó là câu chuyện cổ tích ngợi ca nghĩa anh em và tình vợ chồng gắn bó keo sơn . “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu có nghĩa là Đất Nước được hình thành trong lối sống tình nghĩa. “Miếng trầu bây giờ bà ăn” bắt nguồn từ thưở xa xưa _đó là truyền thống tốt đẹp. “Miếng trầu bắt đầu câu chuyện”. Đất Nước được sinh ra và nuôi dưỡng trong truyền thống đạo lí tố đẹp của dân tộc đó là lối sống nghĩa tình . Đất Nước được hình thành trong tình yêu nhưng lại lớn mạnh và trưởng thành nhờ nhữmg cuộc đấu tranh bảo vệ dân tộc . “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” Câu thơ gợi nhắc truyền thuyết “Thánh Gióng” Làm ta nhớ đến một cậu bé lớn nhanh như thổi để lên đường đanh giặc Ân cứu nước.Một câu chuyện ngợi ca sức mạnh của tình yêu dân tộc và hình ảnh kì vĩ thánh gióng.Và đất nước ta cũng trưởng thành khi mọi người cùng nhau đồng lòng chống giặc ngoại xâm, mở mang bờ cõi.Với Nguyễn Khoa Điềm, ông đã nhìn thấy sự trưởng thành của Đất Nước trong đau thương , thử thách nhờ công cuộc đấu tranh và lòng yêu nước của dân tộc. Qua lịch sử, truyền thống ấy đã trở thành truyền thống yêu nước thiêng liêng.



“Tóc mẹ thì búi sau đầu” Trong muôn vàn truyền thống đẹp ,nhà thơ chọn ra một hình ảnh thật giản dị nhưng rất tinh tế đặc sắc :hình ảnh người phụ nữ Việt với mái tóc bới sau đầu _hình ảnh thật gần gũi ,thân quen in sâu trong nếp nghĩ ,gợi suy ngẫm về con người trong cuộc sống lam lũ  nhưng vẫn duyên dáng, tần tảo ,đảm đang. Hình ảnh ấy qua bao năm tháng vẫn không thay đổi, vẫn gợi suy ngẫm về cái đẹp giản dị mà thiêng liêng

  .
 . Đất Nước còn hiện lên trong sự gắn liền với một lối sống đẹp“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” Câu thơ gợi từ một ca dao “gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”. Ý thơ giản dị mà ý nghĩa vô cùng sâu sắc .Tình yêu được sinh ra và nuôi dưỡng từ trong khó nghèo, từ trong những hoàn cảnh đầy thử thách thật đáng trân trọng, đáng quý. Đó là lối sống trọn nghĩa ,trọn tình,thuỷ chung đã trở thành một truyền thống thiêng liêng được lưu truyền qua bao đời . Và sự sinh thành, phát triển của Đất Nước song hàmh cùng với sự lưu truyền và phát triển của truyền thống tốt đẹp ấy. “Cái kèo, cái cột thành tên” Đất Nước được gắn liền với những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc”cái kèo, cái cột”nhưng chính những thứ đơn sơ, mộc mạc ấy đã tạo nên một mái ẫm gia đình, làng xóm, quê hương, đất nước.

 
ĐN hiện lên qua cuộc sống lao động sinh hoạt : ”Hạt gạo phải một nắng hai sương xay ,giã ,giần ,sàng” Sự hình thành và phát triển của Đất Nước là một quá trình lâu dài ,nhờ bàn tay lao động xây dựng của con người từ thưở sơ khai ,khi con người tạo dựng những cái đơn giản nhất với nỗ lực một nắng hai sương .Con người lao dộng đã biết “xay ,giã ,giần,sàng” để tạo nên hạt gạo ,tạo nên những giá trị vật chất để xây dựng Đất Nước no ấm. Cách sử dụng từ ngữ “một nắng hai sương” và chon lọc hình ảnh “xay ,giã ,giần , sàng”cùng nhịp điệu lan toả gợi sự suy ngẫm liên tưởng ,hình ảnh Đất Nước hiện dần nhờ bàn tay lao động cần cù ,sáng tạo của con người ,hình ảnh ấy hiẹn dần trong nhịp điệu gạo rơi trên sân ,trong tiếng chày ,trong máy xay với cuộc sống lao động bền bĩ dù vất vả ,lam lũ .Qua đó ta nhận ra nét đặc trưng riêng của nền văn học Việt_văn hoá lúa nước. Hình ảnh Đất Nước hiện lên trong cuộc sống sinh hoạt là một Đất nước cần cù, sáng tạo trong lao động.

 
Cũng chính trong cuộc sống lao động sinh hoạt, nhà thơ còn khám ra sự hình thành, phát tiển ngôn ngữ dân tộc gắn liền với nguồn gốchình thành và phát triển của ĐN : Khi con người biết lao động tạo dựng cuộc sống chính là khi họ biết đặt tên cho những sự vật hình tượng gần gũi nhất “cái kèo ,cái cột”,và trong quá trình lao động ,trong sự tìm tòi khám phá ,sáng tạo nên những giá trị vật chất như hạt gạo ,họ đã sáng tạo nên những ngôn từ ghi lại quá trình lao động ấy “xay ,giã ,giần ,sàng”.Đây là kết tinh tinh tuý linh hồn của dân tộc . ĐN hình thành và phát triển cùng với sự hình thành tiếng mẹ thiêng liêng ấy. Khám phá Đất Nước ở phương diện văn hóa sinh hoạt ,Nguyễn Khoa Điềm đã phát biểu nhận thức của mình như lối định nghĩa độc đáo ,một cách lí giải không hề mang tính áp đặt mà đầy sức gợi , sức thuyết phục bằng những câu chuyện ,chọn lọc chi tiết giàu ý nghĩa giúp ta nhận ra Đất nước bắt nguồn từ những điều giản dị nhất, gần gũi nhất, những cũng bền vững muôn đời.

  
Trong đoạn thơ trên tg sủ dụng nhiều các yếu tố ca dao dân ca tục ngữ truyền thuyết cổ tích ko chỉ đem đến sự gần gũi mà còn biểu hiện ý thức tự tôn tự hào dtooc.từ "đất nc" ddc viết hoa và lặp lại 5 lần thể hiện sự thành kính.Với chín dòng thơ 85 chữ ,không hề có một từ hán việt ,Nguyễn Khoa Điềm đã tạo nên những vần thơ tự do dạt dào cảm xúc, kết hợp với chất giọng thủ thỉ tâm tình như một điệu ru dễ đi vào lòng người .Nhưng chuyển tải mạch cảm xúc ấy là một lối lập luận chặt chẽ :tổng -phân -hợp. Sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ và cảm xúc bay bổng đã làm nên chất trữ tình-chính luận trong thơ NKĐ



Qua những dòng thơ trăn trở và suy tư về một khái niệm tưởng chừng như đã ăn sâu vào máu thịt mỗi người dân Việt ,qua chiều sâu văn hoá, sinh hoạt Nguyễn Khoa Điềm đã có một phát hiện ,một cảm nhận vô cùng sâu sắc: Đất Nước hiện lên trong thế giới tinh thần của cộng đồng người Việt ,trong cuộc sống sinh hoạt từ bao đời . Đất Nước hiện lên gắn liền với những phong tục tập quán với lối sống,nếp nghĩ qua kho tàng văn học dân gian ,qua bản sắc văn hoá ....Đó là một Đất Nước không trừu tượng mà cụ thể ,chứa đựng mơ ước,khát vọng ,quan niêm về vẻ đẹp phẩm chất của tâm hồn dân tộc. Gương mặt Đất Nước hiên lên thật sống động ,lung linh: trong cuộc sống, trong lao động và trong chiến đấu.

Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018

Ôn Thi THPT Quốc gia Mở bài và kết bài


14 MỞ BÀI KẾT BÀI ÔN THI THPT QUỐC GIAMÔN VĂN
14 MỞ BÀI NÂNG CAO
1, Việt Bắc
“Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu)
Đã từ lâu mảnh đất Tây Bắc – Điện Biên được coi là quê hương của kháng chiến, quê hương
của những anh hùng, đây là mảnh đất trung du nghèo khó mà nặng ân tình khiến ai đã đặt
chân đến đây cũng phải bồi hồi, xuyến xao. Mảnh đất ấy đã trở thành niềm thương, nỗi nhớ
cho những ai đã từng đến rồi lại phải đi. Có người đã từng nói: “Thơ chỉ trào ra khi trong tim
anh mọi thứ đã thật ứ đầy”, chính những niềm thương, nỗi nhớ trào dâng ấy đã tạo ra những
rung động mãnh liệt trong cảm xúc để rồi nhà thơ Tố Hữu – Một người lính đã từng gắn bó
với mảnh đất này viết nên tác phẩm “Việt Bắc” – tuyệt tác của đời mình. Tác phẩm là một
khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Bài thơ
được viết ra như lời hát tâm tình của một mối tình thiết tha đầy lưu luyến giữa người kháng
chiến và đồng bào Việt Bắc được thể hiện qua lăng kính trữ tình- chính trị, đậm tính dân tộc
và ngòi bút dạt dào cảm xúc của thi nhân.
2, Tây Tiến
“Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ
Tươi như cánh nhạn lai bồng
...
Khi Tổ Quốc cần họ biết sống xa nhau”
(Cuộc chia ly màu đỏ – Nguyễn Mỹ)
Chiến tranh đi qua đã để lại cho chúng ta những hoài niệm về những tháng năm không thể
nào quên, đó là khi con người ta nhận ra sứ mệnh của mình sinh ra là để chiến đấu, là để báo
thù, đó là những con người sẵn sàng gác lại tuổi trẻ, việc học hành, tình cảm cá nhân vị kỉ để
đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc... Những con người ấy đã đi vào trong thơ ca, nghệ thuật như
những huyền thoại của thế kỉ 20 mà nhà thơ Quang Dũng đã thể hiện thật xuất sắc thông qua
lăng kính lãng mạn nhưng vẫn đậm chất hiện thực của mình qua bài thơ Tây Tiến. Tác phẩm
đã khắc họa thành công bức tượng đài người lính Tây Tiến trong những năm đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp gian khổ.
3, Sóng
Từ trước đến nay, tình yêu luôn là thứ không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người.
Xuân Diệu đã từng viết:
“Làm sao sống được mà ko yêu
Không nhớ không thương một kẻ nào”
(Bài thơ tuổi nhỏ – Xuân Diệu)
Đó cũng là lý do tình yêu được đưa rất nhiều vào trong thơ ca và nghệ thuật, trở thành nguồn
cảm hứng bất tận với nhiều thi nhân. Có rất nhiều những nhà thơ, nhà văn từng viết về tình
yêu nhưng có lẽ sâu sắc nhất phải kể đến 2 cây bút thơ tình xuất sắc của nền văn học Việt
Nam, đó là Xuân Diệu và Xuân Quỳnh. Nếu như Xuân Diệu từng làm mưa làm gió khiến
người đọc nhớ mãi khi đặt tất cả dấu ấn tình yêu mãnh liệt của mình với “Biển” thì Xuân
Quỳnh – một nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ đã thể hiện tình cảm
người con gái qua hình ảnh “Sóng”. Khi nhắc đến tên tuổi của Xuân Quỳnh, từ trong tiềm
thức của mỗi người yêu văn chương đều biết tiếng thơ chị là tiếng nói nhân hậu, thủy chung,
giàu trực cảm và tha thiết khát vọng hạnh phúc đời thường. Một trong số những tác phẩm
xuất sắc nhất của Xuân Quỳnh phải kể đến tập “Hoa dọc chiến hào” với linh hồn là bài thơ
“Sóng” được tác giả viết nhân một chuyến đi thực tế ở biển Diêm Điền năm 1967.
4, Tùy bút người lái đò Sông Đà
MB1:
"Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy
Thì xa xôi gấp mấy vẫn lên đường.
Sống ở thủ đô mà dạ để mười phương.
Nghìn khát vọng chất chồng mơ ước lớn."
(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)
Hòa chung với không khí sôi nổi của cả nước khi Miền Bắc tiên lên xây dựng Chủ nghĩa xã
hội với xu hướng đi đến những vùng cao để phục hồi kinh tế với tiếng hát đầy sông, đầy cầu
thì Nguyễn Tuân đã lựa chọn Tây Bắc làm miền đất hứa để viết lên tuyệt tác của đời mình.
Ông không đi theo lối mòn khi viết về những “cái tôi” còn buồn như Huy Cận, Chế Lan Viên
– Những “cái tôi” luôn cô đơn trước vũ trụ, cô đơn giữa dòng đời. Nguyễn Tuân đã khéo léo

để “cái tôi” cá nhân của mình hòa chung với “cái ta” của cộng đồng và mở ra một trào lưu
văn học mới để rồi tất cả được kết tinh trong tập “Tùy bút Sông Đà” mà linh hồn của nó
chính là “ Tùy bút Người lái đò Sông Đà”. Nguyễn Tuân là một nhà văn cả đời say mê đi tìm
cái đẹp, cái đẹp ở đây chính là nghệ thuật, mà khi nói đến nghệ thuật cũng chính là cái đẹp,
với Nguyễn Tuân, con người chính là tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời nhất mà tạo hóa đã ban
tặng. Cái đẹp ấy được Nguyễn Tuân phát hiện ra trong “thứ vàng mười đã qua thử lửa” của
Tây Bắc, ở những con người đang gắn bó với công cuộc xây dựng quê hương, đất nước. Chất
vàng mười ấy chính là vẻ đẹp của người lái đò sông Đà, dưới ngòi bút điêu luyện của
Nguyễn Tuân đó vừa là người anh hùng, vừa là nghệ sĩ tài hoa trên chính nghề nghiệp của
mình.
MB2:
“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu”
(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)
Tây Bắc đã trở thành vùng đất hứa của thi ca nghệ thuật những năm 58-60 khi miền Bắc tiến
lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, các nhà văn nhà thơ đến với nơi đây để tìm cho mình những
nguồn cảm hứng mới. Ta từng biết đến Tô Hoài với tập “truyện Tây Bắc” mà nổi bật là
truyện ngắn “Vợ Chồng A Phủ”, hay Nguyễn Khải cũng đã từng xôn xao lòng mình với
“Mùa Lạc” thì Nguyễn Tuân lại thăng hoa trên mảnh đất này với tập “Tùy bút Sông Đà” với
linh hồn là bài kí “Người lái đò Sông Đà”. Là một nhà văn đi theo chủ nghĩa xê dịch, dấu
chân của Nguyễn Tuân đã đi khắp mảnh đất hình chữ S này, nhưng ông lại chọn Tây Bắc làm
nơi cho ra đời đưa con đẻ tinh thần của mình là bởi chỉ có nơi đây mới thỏa mãn thực đơn
cho nhãn quan sáng tác của ông. Tùy bút sông Đà là những trang văn được viết bằng ngôn
ngữ điêu luyện, những đoạn tả đèo cao, vực sâu, thác nước dữ dội, hoặc cảnh thiên nhiên đẹp
đến tuyệt đỉnh, nhưng lấp lánh giữa những vẻ đẹp ấy là hình ảnh con sông Đà hiện lên vừa
hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng rất nên thơ, trữ tình và lãng mạn.
5, Tuyên Ngôn Độc Lập
“Nam quốc sơn hà nam đế cứ
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
Là những lời thơ thần của Lý Thường Kiệt vang dội trên sông Như Nguyệt để đánh đuổi
quân Tống xâm lược cũng như khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc ta dưới thời nhà Lý.
Sau hàng nghìn năm nhân dân Việt Nam sống dưới chế độ quân chủ, trăm năm Pháp thuộc, 5
năm phát xít... thì giờ đây thực dân Pháp đang âm mưu quay lại cướp nước ta lần nữa dưới
chiêu bài lừa bịp công luận quốc tế “bảo hộ” và “khai hóa”, để khẳng định chủ quyền độc lập
của dân tộc ta cũng như vạch mặt, tố cáo thực dân Pháp thì chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho ra
đời Bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Đây là một áng văn chính luận mẫu mực của nền văn học Việt
Nam hiện đại, kết tinh những tinh hoa của dân tộc và khí phách non sông, mang giá trị pháp
lí, giá trị lịch sử và cả giá trị nghệ thuật cao cả. Trước sự chứng kiến của hơn 50 vạn đồng
bào cả nước tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, bằng bút pháp lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh
thép, dẫn chứng hùng hồn và giọng đọc đặc biệt thì Bản Tuyên Ngôn độc lập đã khơi dậy
lòng yêu nước nồng nàn, thấm nhuần vào từng con tim, khối óc con người Việt Nam.
6, Ai đã đặt tên cho dòng sông
Một lần anh đến Huế thơ
Gặp cô gái đẹp say mơ giấc nồng
Sông Hương quyến rũ lạ lùng
Em choàng tỉnh giấc ngượng ngùng nhìn tôi
Sông Hương đã đi vào thơ ca nghệ thuật như một niềm cảm hứng bất tận đối với tất cả văn
nghệ sĩ, nhưng dù là trong tác phẩm nào đi chăng nữa sông Hương vẫn luôn mang một dáng
vẻ vô cùng dịu dàng, quyến rũ khiến ai cũng phải mê đắm ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Có lẽ
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã “phải lòng” sông Hương – xứ Huế như một lần gặp gỡ định
mệnh để rồi gắn bó với mảnh đất này hơn 40 năm. Trước những rung động của một mối tình
say đắm trong những trang Kiều để từ đó nhà văn dành cho sông Hương một bài kí trang
trọng. Cả bài kí dường như là cuộc hành trình tìm kiếm cho câu hỏi đầy khắc khoải “Ai đã
đặt tên cho dòng sông” .Và cuộc tìm kiếm, lý giải cái tên của dòng sông đã trở thành cuộc
tìm kiếm đầy hào hứng và say mê không chỉ vẻ đẹp của diện mạo hình hài mà còn là độ lắng
sâu của tâm hồn và rung động. Con sông xứ Huế hiện lên trong cuộc tim kiếm của Hoàng
Phủ Ngọc Tường đã không chỉ là con sông địa lý mà là một sinh thể, một con người “sông
Hương quả thực là Kiều, rất Kiều” vừa xinh đẹp, vừa tài hoa, vừa thăng trầm chìm nổi cùng
lịch sử lại vừa đằm thắm lắng sâu với nền văn hoá riêng của nó.
7, Hồn Trương Ba- Da Hàng Thịt
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
Như tiếng gọi ngàn đời không khuất phục
Đất nước giống như con thuyền xuyên gió mạnh
Những mối tình trong gió bão tìm nhau.
(Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi...– Lưu Quang Vũ )
Từ những năm 60 của thế kí trước, Lưu Quang Vũ đã khẳng định tên tuổi của mình bằng việc
sáng tác thơ ca, ngay từ đầu ông đã tạo được dấu ấn về một lối viết tài hoa, nồng nàn cảm
xúc toát lên tình yêu quê hương, đất nước tha thiết, mà Hoài Thanh đã từng nhận định rằng
“Thơ anh là một tiếng nói nhỏ nhẹ mà sâu”. Từ năm 1978, Lưu Quang Vũ bắt đầu chuyển
sang lĩnh vực sân khấu. Có thể khẳng định “Sân khấu mới là mảnh đất của người nghệ sĩ tài
ba này”.. Cảm hứng chủ đạo trong kịch Lưu Quang Vũ là cảm hứng về con người, về cái đẹp,
cái thiện, cái tôi hoà tan trong cái ta. Ở đó tính thời sự được kết hợp với những vấn đề muôn
thuở của nhân loại mà tiêu biểu đó là vở “Hồn Trương Ba da hàng thịt”. Đó là cuộc giao
tranh giữa cái thiện và cái ác, cuộc giao tranh này là muôn đời muôn kiếp từ khi khai sinh
cho đến ngày không còn trái đất thì vẫn còn giao tranh thiện ác. Cho nên có người đã từng
nói “kịch Lưu Quang Vũ là có tính vĩnh cửu”
8, Đất Nước
Đất nước đã nghiêng vào trong thơ ca, nghệ thuật như một điểm hẹn về tâm hồn của rất nhiều
văn nghệ sĩ. Xuân Diệu đã từng viết:
Tổ quốc tôi như một con tàu
Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau
Hay Chế Lan Viên đã không kìm được lòng mình mà thốt lên rằng:
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng
Chưa đâu và cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn
Thì Nguyễn Khoa Điềm – Một nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ đã gặp gỡ
đề tài này bằng tập thơ “ Trường Ca mặt đường khát vọng” Trong đó chương V là chương
trung tâm kết nối tác phẩm bằng hình tượng nghệ thuật trung tâm là Đất Nước. Bằng là
phong cách thơ trữ tình chính luận. Thơ Nguyễn Khoa Điềm lôi cuốn người đọc bởi xúc cảm
lắng đọng, giàu chất suy tư, thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc
chiến đấu của nhân dân. Nguyễn Khoa Điềm đã chọn cho mình điểm nhìn gần gũi, quen
thuộc, bình dị, khác hẳn với những nhà thơ cùng thời để miêu tả về Đất Nước và để thể hiện
quan niệm vô cùng mới mẻ và sâu sắc:
“Đất nước này là của nhân dân
Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao, thần thoại”.
9, Vợ Chồng A Phủ
MB 1:
“Tinh thần và sức mạnh bất khuất của cả nước được nuôi dưỡng và phát triển trong những
cánh rừng đại ngàn Tây Bắc. Sống với những ngọn thác dữ dội, những núi đá hùng vĩ, những
vạt rừng âm u là các dân tộc thiểu số anh em. Đời sống sinh hoạt của họ khác nhau nhưng
tinh thần kháng Pháp thì là một.” Đó là lời chia sẻ về cuộc sống những ngày đi thực tế ở Tây
Bắc đã để lại trong Tô Hoài những điều để thương, để nhớ nhất. Những cảm xúc ấy đã được
kết tinh thành tập “Truyện Tây Bắc” mà lấp lánh nhất có lẽ là truyện ngắn “Vợ Chồng A
Phủ”, Tác phẩm được tổ chức chặt chẽ, rất sinh động và tự nhiên, không cần những nút thắt
quá biến động những vấn thu hút được bạn đọc là bởi tác giả đã có cái nhìn hiện thực sắc bén.
Nhà văn Nga Sê-khốp nói: "Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt
tuỷ”. Thông qua lăng kính đầy tình yêu thương, lòng nhân ái tác giả đã thể hiện được chủ
nghĩa nhân đạo tích cực, mới mẻ chưa từng có trên diễn đàn văn chương Việt Nam. Được thể
hiện thông qua cuộc đời, số phận 2 nhân vật Mị và A Phủ. Hai nhân vật trung tâm từ trong
bóng tối đau khổ, ô nhục đã vươn ra ánh sáng của hạnh phúc, tự do.
MB2:
Một tác phẩm văn học chỉ thực sự có giá trị khi nó lên tiếng vì con người, ca ngợi và bảo vệ
con người. Bởi Nam Cao đã từng nói “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ
thuật không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ
những kiếp sống lầm than” (Trăng Sáng). Chúng ta đặc biệt trân trọng những tác phẩm được
kết tinh bước phát triển của chặng đường văn học này, trong đó xuất sắc nhất vẫn phải kể đến
“ Vợ Chồng A Phủ” của nhà văn Tổ Hoài.

10, Vợ Nhặt
Kim Lân được ví như một loại đồ cổ quý hiếm cất giữ trong đó là những hạt bụi vàng văn
hóa thẳm sâu của nền văn minh sông Hồng. Ông trở thành nhà văn của những số phận thiệt
thòi, những kiếp người cùng khổ của làng quê Việt Nam giữa thế kỉ XX. Các nhân vật của
ông đều mang hình bóng của tác giả, là con người hiền hậu,chất phác và giàu yêu thương,
tình nghĩa. Vợ Nhặt là một tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân được in trong tập Con Chó Xấu
Xí năm 1962. Nhà văn đã dùng Vợ nhặt để làm cái đòn bẩy để nâng con người lên trong tình
nhân ái. Câu chuyện Vợ nhặt đầy bóng tối nhưng từ trong đó đã lóe lên những tia sáng ấm
lòng.
11, Rừng Xà Nu
“Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”
Đã có những tháng ngày như thế, những tháng ngày đất nước hừng hực sục sôi trong khí thế
của cuộc kháng chiến gian khổ mà anh hùng. Mảnh đất Tây Nguyên đã đi vào văn chương
như một huyền thoại về những con người “đẹp từ như trong chân lí sinh ra”, những con
người mang vẻ đẹp, sức sống mãnh liệt như những Cây xà nu cao lớn chống lại kẻ thù để bảo
vệ quê hương, đất nước. Nguyễn Trung Thành đã tái hiện xuất sắc vẻ đẹp đậm tính sử thi ấy
thông qua truyện ngắn “Rừng xà nu” được in trong tập “Trên quê hương những anh hùng
Điện Ngọc”. Rừng xà nu đã đem lại ngỡ ngàng cho người đọc khi một truyện ngắn mà phản
ánh được cả một cuộc đầu tranh chống Mỹ ngụy của người dân Tây Nguyên, vì vậy tính sử
thi càng được tô đậm rõ nét hơn thông qua cách xây dựng nhân vật, hình tượng cây xà nu và
ngôn ngữ của tác phẩm.
12, Những đứa con trong gia đình
Viết về lòng yêu nước, sự chuyển giao thế hệ cầm súng để đánh giặc có lần ta đã từng bắt gặp
trong thơ Tố Hữu ở hình ảnh:
“Lớp cha trước lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành”
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
(Tiếng hát sang xuân)
hay Nguyễn Quang Sáng với tác phẩm “Chiếc lược ngà” với hình ảnh cô giao liên Thu nhanh
nhẹn, thông minh, vào chiến trường để vừa trả thù cho cha vừa đánh giặc cứu nước. Thì đến
với tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” của nhà văn Nguyễn Thi tác giả đã viết về một
gia đình lớn với những nét tính cách không giống nhau nhưng cùng chung một lí tưởng lớn:
“Ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta, như vợ như chồng”
Nhân vât của Nguyễn Thi hiện ra như những bức chân dung rõ rệt, sống động qua bút pháp
miêu tả nhân vật điêu luyện. Đó là những người nông dân Nam bộ sống bộc trực, thẳng thắn,
nghĩa tình, họ là những con người yêu nước nồng nàn, có lòng căm thù giặc cao độ, họ đẹp
trong chiến đấu, họ đẹp trong đời thường, họ đẹp như những dòng kênh nước bạc nơi đây.
Toàn bộ vẻ đẹp ấy được kết tinh trọn vẹn nhất ở hai nhân vật Chiến và Việt.
13, Chiếc thuyền ngoài xa
Nguyễn Minh Châu là một nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
chống Mĩ, vì vậy nhãn quan và ngòi bút của ông cũng xoay vần theo những biến động của
lịch sử. Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Minh Châu tỏa sáng trong thời kì kháng chiến
chống Mĩ khi ông viết về thế hệ con người Việt Nam trong chiến tranh hào hùng, phi thường,
dũng cảm, dám gạt bỏ ước mơ của mình để cống hiến cho độc lập dân tộc, ta đã từng bắt gặp
những con người như thế, đó là Nguyệt và Lãm trong truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng”.
Nhưng đến những năm 80 của thế kỉ XX, Nguyễn Minh Châu lại một lần nữa mở ra cánh cửa
văn chương của mình khi ông chính là người đã tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học,
nhà văn đã nhìn cuộc đời bằng cái nhìn khác, bằng đôi mắt khác và bắt đầu cho mình cảm
hứng mới về đạo đức, thế sự mà phản ánh chính bằng con người. Dù ở hoàn cảnh nào thì
Nguyễn Minh Châu cũng có cái nhìn thấu hiểu, trĩu nặng tình thương và mối âu lo với con
người, bởi vậy trong Trăng sáng, Nam Cao đã nêu quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh của
mình: nhà văn phải thấy rằng dưới cõi nhân gian mà ánh trăng đang bao phủ ruột nà, nơi
người nghệ sĩ mặc sức cho trí tưởng tượng của mình bay bổng là bao cuộc đời cực nhục, vất
vả. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu có thể coi như là một sự
minh họa tiếp tục cho quan điểm ấy.

14, Đàn ghi ta của Lorca
Thanh Thảo là một nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Ông là một nhà thơ
có xu hướng cách tân thơ Việt để tạo cho mình những tiếng nói riêng ấn tượng. Thanh Thảo
đã từng quan niệm: “ Với những bài thơ hay, thi sĩ phải sáng tạo bằng cả thể xác lẫn tâm linh
mình.. phần tích điện, phần thu góp là cả một quá trình nhưng sáng tạo thì lại là khoảnh khắc.
Khoảnh khắc ấy càng xảy ra càng đột ngột bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu”. Bài thơ Đàn ghi
ta của Lorca là một sản phẩm tuyệt vời của quá trìn tích điện, thu góp và sáng tạo ấy. Bài thơ
tái hiện vẻ đẹp của người nghệ sĩ Gracia Lorca- Nhà thơ vĩ đại nhất Tây Ban Nha thế kỉ XX,
qua đó thể hiện những suy nghiệm thâm trầm về nỗi đau và niềm hạnh phúc của những cuộc
đời đã hiến dâng cho cái đẹp. Nhà thơ đi sâu vào biểu hiện cái tôi nội cảm với những đổi mới
về hình thức nghệ thuật qua thể thơ siêu thực tượng trưng độc đáo những năm 80 thế kỉ XX.
14 KẾT BÀI NÂNG CAO
1, Vợ nhặt
Trên phông nền u ám của nạn đói, của cái chết, tiếng quạ kêu thê thiết với mùi đống dâm
khét lẹt, Kim Lân vẫn pha vào đó một chút màu sắc ấm áp của hạnh phúc lứa đôi, lóe lên hy
vọng về một ngày mai tươi sáng, về sự thay đổi vận hội. Thông qua tình huống dở khóc dở
cười vô cùng trớ trêu đó, Tác giả ngầm khẳng định một chân lý mà Nguyễn Khải đã thể hiện
trong "Mùa Lạc": "Sự sống nảy sinh từ trong lòng cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong gian
khổ hy sinh. Ở đời này không có con đường cùng mà đây chỉ là những ranh giới. Điều cốt
yếu là con người phải chuẩn bị cho mình một sức mạnh để có thể vượt qua những ranh giới
ấy."
2, Vợ chồng A Phủ
"Văn học là cuộc đời...Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi di tới của văn học", mỗi người
nghệ sĩ lớn đều ý thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học và đời sống. Đời sống là
nguồn đè tài không bao giờ vơi cạn cho những sáng tác đầy nảy nở, bước đi trên từng nẻo
đường là một giọt chắt chiu tư tưởng được hình thành. Qua tác phẩm "Vợ chồng A Phủ, ta
thấy không chỉ cáo lũ quan lại phong kiến bị lên án tố cáo, Tô Hoài còn phát hiện, ngợi ca vẻ
đẹp phẩm chất và khát vọng tự do hạnh phúc, cùng sức sống mãnh liệt trong tâm hồn nguời
lao động. Đó chính là chủ nghĩa nhan đạo Cách mạng, gắn tình thương với đấu tranh, gắn
niềm tin vào tương lai đầy triển vọng của con người. Đó chính là sự diễn tả hợp lí những
nghịch cảnh, những diễn biến phức tạp trong tâm hồn Mị, giúp nhà văn phần nào đạt đến cái
gọi là "phép biện chứng tâm hồn". Cùng với cốt truyện sáng tạo, tình huống truyện độc đáo
hấp dẫn, nghệ thuật kể chuyện giản dị, "Vợ chồng A Phủ" vẫn giữ nguyên vẹn sức hấp dẫn
của mình qua hàng thập kỉ.
3, Rừng xà nu
"Tôi yêu say mê cây xà nu. Ấy là một cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch. Mỗi
cây cao vút, vạm vỡ ứ nhựa. Tán lá vừa thanh vừa rắn rỏi, mênh mông, tưởng như đã sống
ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau." Trong dụng ý miêu tả của mình, Nguyễn Trung Thành
dã lựa chọn những cánh rừng xà nu cạnh con nước lớn và chạy bát ngát đến tận chân trời làm
phông nên cho tác phẩm. Để từ đó xuất hiện những người anh hùng và những hành động anh
hùng của người Tây Nguyên. Những hành động kiên cường anh dũng của họ mãi được lịch
sử ghi nhận và cuộc đời, hành động của họ mãi mĩa trở thành trang sử thi bất hủ của dân tộc.
Và trong những đêm huyền thoại với ngọn lửa bùng bùng soi rõ, những khan dử thi anh hùng
mãi được hát lên, được ghi nhớ và được kể lại cho muôn đời sau. Và đâu đó, âm vọng trong
núi, trong nước, trong cánh rừng và trong tâm trí người Xô Man vẫn còn ccau nói trầm trầm
đầy uy lực của cụ Mết: "Nhớ lấy, ghi nhớ,... Chúng nó cầm súng, mình phải cầm mác".
4, Những đứa con trong gia đình
Những năm tháng trôi đi và lịch sử không ngừng biến động nhưng "Những đứa con trong gia
đình" mãi là bông hoa không tuổi tựa mùa xuân không ngày tháng đã ghi lại quá khứ hào
hùng, sôi động của đất nước mình một thuở. Vẻ đẹp con người Việt Nam đã làm nên cái hồn
của cả dân tộc và góp phần làm cho tác phẩm còn sống mãi với thời gian. Văn học thời kì
chống Mĩ cứu nước đã bắt được nhịp sống của dân tộc, đã ngợi ca sức sống và vẻ đẹp của
con người Việt Nam. Giờ lật lại, chúng ta không khỏi tự hào, xúc động về những năm tháng
đất nước nước mình đã đi qua, về vẻ đẹp muôn đời của người con đất Việt. Và ta mãi cất lên
những bài ca không quên – bài ca viết về quê hương, viết về con người bởi tự hào biết mấy
hai tiếng: Việt Nam.
5, Đất nước
Đề tài về đất nước luôn luôn là một cảm hứng cho mọi nền văn học nhất là nền văn học của
một dân tộc mà tình yêu nước luôn luôn bị đem ra thử thách. Thành công về đề tài này đã
nhiều nhưng "Đất nước" của Nguyễn Khoa Điềm vẫn có một tiếng nói riêng, một sự khám
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
phá riêng với một phong cách riêng. , góp vào vườn thơ về đất nước hai bông hoa đẹp nhất
tỏa hương thơm đến muôn đời, muôn thế hệ.
6, Sóng
Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền
Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu
nước”, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ. Cho nên
có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái
trong tình yêu
"Khi ta còn trẻ, thơ là người mẹ
Ta lớn lên rồi, thơ là người bạn, người yêu
Chăm sóc tuổi già, thơ là con gái
Lúc chết đi rồi, kỉ niệm hóa lưu thơ"
Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những
con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là
một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, bà đã làm phong phú hơn cho nền thơ nước nhà.
7, Tây Tiến
Đọc Tây tiến, cái ta cảm nhận được không chỉ là vỏe đẹp hào hùng, hòa hoa, sự hy sinh bi
tráng của người lính Tây Tiến mà vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên miền Tây. Tất cả
hiện lên thật rõ nét trong nỗi nhớ của nhân vật trữ tình, nỗi nhớ thương chưa khi nào nguôi
dứt. Có thể nói, với Tây Tiến, Quang Dũng đã xây dựng thành công bức tượng đài bất hủ về
người lính trong kháng chiến chống Pháp. Khói lửa chiến tranh đã qua đi, lịch sử dân tộc
cũng đã bước sang trang mới, nhiều người thuộc đoàn quân Tây Tiến năm xưa giờ đây đã rở
thành thiên cổ, trông đó có cả nhà thơ Quang Dũng hào hoa…Đúng như những vần thơ Gian
Nam từng viết:
"Tây Tiên biên cương mờ khói lửa
Quân đi lớp lớp động cây rừng
Và bài thơ ấy, con người áy
Vẫn sống muôn đời với núi sông."
8, Việt Bắc
Giọng thơ lục bát nhẹ nhàng mà sâu lắng kết hợp với kết cấu xưng hô "ta - mình", bài thơ ôm
chứa niềm lạc quan, vui sống và tin tưởng vào cuộc sống con người Việt bắc. Nó mang âm
điệu trữ tình, thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người tha thiết và tấm lòng yêu nước thiết tha
của Tố Hữu. Cuối bài thơ vang lên tiếng hát ngọt ngào khơi gợi bao kỉ niệm. Ki niệm ấy theo
mãi dấu chân người đi và quấn quýt bên lòng kẻ ở lại.... Lời thơ giản dị mà trong sáng thể
hiện niềm rung động thật sự trước vẻ đẹp của núi rừng và con người Việt Bắc. Nỗi nhớ trong
thơ của Tố Hữu đã đi vào tâm hồn người đọc, như khúc dân ca ngọt ngào đê lại trong lòng ta
những tình cảm sâu lắng, dịu dàng, như nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết:
"Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hòa tâm hồn!"
9, Ai đã đặt tên cho dòng sông
Có thể nói "Ai đã đặt tên cho dòng sông" đã mang đến những phát hiện mới lạ và độc đáo
của sông Hương cho độc giả cả nước. Nó là một dòng sông hung tợn, man dại ở khúc thượng
nguồn rồi trở nên mê đắm, thủy chung khi gặp được người tình trong mộng của mình là Huế.
Sông Hương không vô tri vô giác mà nó có cảm xúc và có tình yêu. Tác phẩm đã thể hiện
được tình yêu quê hương xứ sở nồng nàn của Hoàng Phủ Ngọc Tường, một kí giả nặng lòng
với Huế:
"Dòng sông ai đã đã đặt tên
Để người đi nhớ Huê không quên
Xa con sông mang bao nỗi nhớ
Người ở lại tháng năm đợi chờ."
10, Người lái đò sông Đà
Viết về người lái đò sông Đà, viết về một vùng quê hương Tổ quốc, Nguyễn Tuân đã thể hiện
nguồn xúc cảm yêu thương tha thiết đối với người lao động và thiên nhiên đất nước. Sông Đà
càng đẹp, càng sinh động, ông lái càng anh dũng, ngoan cường trong công việc ta càng thấy
được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn – Người lao động trong tác phẩm Nguyễn Tuân
thật bình dị từ công việc đến hình dáng, cách ăn nói. Nhưng ông ta lại là người anh hùng
trước mắt Nguyễn Tuân. Nhà văn đã phát hiện ra trong con người bình dị ấy chất nghệ sĩ tài
hoa, dám đương đầu với sóng to gió lớn để chèo chống con thuyền qua sông. Ông lái hiện lên
trong tác phẩm là người lao động hăng hái, quên mình vì công việc. Cuộc sống quanh ta vốn
dĩ rất tầm thường, cũ kĩ. Ngày lại qua ngày, mây vẫn bay và gió vẫn thổi...nhưng chính nhà
văn là người mang lại cho ta một thế giới mới, tinh khôi, kì diệu. Nguyễn Tuân cũng là một
nhà văn, một người góp phần sáng tạo lại thế giới. Văn chương của Nguyễn Tuân đã mang
đến cho chúng ta một chân trời huyền bí riêng biệt, hấp dẫn và độc đáo. Đó là chân trời của
cái đẹp, của sự tài hoa và uyên bác...
11, Lorca
Để lòng mình ngân theo chuỗi âm thanh ấy, ta hiểu rằng trong cuộc tương tranh không ngừng
và hết sức thú vị giữa những cách diễn tả đặc hữu của văn học và cách diễn tả mang tính chất
ám gợi huyền hồ của âm nhạc, cuối cùng, ở bài thơ của Thanh Thảo, cách diễn tả của âm
nhạc đã chiếm ưu thế. Điều này hiển nhiên là một sự lựa chọn có ý thức. Để nói về nỗi cô
đơn, cái chết, sự lặng yên, “lời” vẫn thường gây vướng víu, gây nhiễu. Chỉ có nhạc với khả
năng thoát khỏi dấu ấn vật chất của sự vật khi phản ánh nó, trong trường hợp này, là phương
tiện thích hợp. Tất nhiên, Thanh Thảo không phải đang làm nhạc mà là làm thơ. Nói nhạc ở
đây không có gì khác là nói tới cách thơ vận dụng phương thức của nhạc – cái phương thức
ám thị, khước từ mô tả trực quan – để thấu nhập bề sâu, “bề xa” của sự vật. Từ lâu, các nhà
thơ tượng trưng chủ nghĩa đã hướng tới điều này. Dù không nhất thiết phải quy ” Đàn ghita
của Lor-ca” vào loại hình thơ nào, ta vẫn thấy nó đậm nét tượng trưng. Chẳng có gì lạ khi với
bài thơ này, Thanh Thảo muốn thể hiện mối đồng cảm sâu sắc đối với Lorca - cây đàn thơ lạ
lùng trong nền thi ca nhân loại ở nửa đầu thế kỉ XX đầy bi kịch.
12, Chiếc thuyền ngoài xa
Có thể thấy cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm Nguyễn Minh Châu trước năm 1975 là cảm
hứng anh hùng cách mạng, còn sau năm 1975 là cảm hứng về nhân cách con người, là hành
trình “khám phá con người bên trong con người” (Bakhtin). Theo mạch cảm hứng ấy, năm
1982 Nguyễn Minh Châu viết truyện ngắn Bức tranh; trong ý nghĩ tự phán xét, nhân vật hoạ
sĩ đã vẽ một bức chân dung tự hoạ nhằm thể hiện “khuôn mặt bên trong của chính mình”.
Đáng lưu ý là, nếu trong truyện Bức tranh, Nguyễn Minh Châu hướng cái nhìn nghệ thuật
vào thế giới nội tâm thì trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu lại hướng
cái nhìn nghệ thuật ra thế giới bên ngoài, ra cuộc sống đời thường. Nếu truyện Bức tranh là
sự tự nhận thức, tự phê phán của con người dưới ánh sáng của lương tâm, đạo đức, thì truyện
Chiếc thuyền ngoài xa là sự nhận thức và phê phán cái xấu, cái ác trong cuộc sống thường
ngày. Cả hai tác phẩm đều được viết dưới sự chỉ đạo của quan điểm nghệ thuật: chỉ ra mặt
xấu, mặt tối để góp phần hoàn thiện nhân cách con người, làm cho cuộc sống ngày càng tốt
đẹp hơn. Đặc biệt, truyện Chiếc thuyền ngoài xa mang đến một bài học đúng đắn về cách
nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất
thực sự sau vẻ ngoài đẹp đẽ của hiện tượng, thật đúng như Nguyễn Minh Châu từng khẳng
định: “Nhà văn không có quyền nhìn sự vật một cách đơn giản, và nhà văn cần phấn đấu để
đào xới bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử”.
13, Hồn Trương Ba, da hàng thịt
Nhiều thập kỉ trôi qua, bạn đọc ngày nay được sống trong sự đổi mới toàn diện, trong khí thế
vươn lên của đất nước và dân tộc, sẽ còn tìm thấy nhiều tầng ý nghĩa thú vị hàm ẩn trong vở
kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt. Thông qua hình tượng hồn Trương ba, Lưu Quang Vũ đã
đặt ra những vấn đề tư tưởng thấm đẫm chất nhân văn, không chỉ có ý nghĩa nhất thời mà có
ý nghĩa muôn đời đối với tất cả mọi người.
14, Tuyên ngôn Độc lập
Lời văn không khô khan mà trũ tình đanh thép. Mỗi từ mỗi câu đều chứa đựng trong đó sức
nặng tinh thần của cả một dân tộc anh hùng quyết hi sinh để giữ độc lập tự do. Cụm từ độc
lập tự do được lặp đi lặp lại ba lần như khắc sâu vào muôn triệu người Việt Nam, như tiếng
kèn xung trận vang lên mạnh mẽ hào hùng. Lời tuyên bố mở nước cũng là lời thề sắt đá vừa
thiêng liêng vừa khích lệ nhân dân ta vừa là lời cảnh báo đối với kẻ thù. Tác phẩm kết thúc
những cũng là mở đầu cho một thời kì đấu tranh giữ vững chủ quyền độc lập tự do của dân
tộc.