Thứ Năm, ngày 12 tháng 12 năm 2013

DÀN Ý VỘI VÀNG - XUÂN DIỆU

XUÂN DIỆU
( 1916 – 1985)    

            Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu; sinh ngày 02 - 2 - 1916 tại Tùng Giản - Tuy Phước - Bình Định.
            Quê quán: Đại Lộc - Can Lộc – Hà Tĩnh.
            Xuân Diệu học tiểu học ở Quy Nhơn, sau đó ra học trung học ở Hà Nội và Huế.
            Năm 1940, ông thi đỗ Tham tá thương chính và vào làm việc tại Mĩ Tho. Một thời gian sau ông xin thôi việc ra Hà Nội kết bạn thơ với Huy Cận.
Xuân Diệu tham gia cách mạng từ năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn hóa cứu quốc, thư kí tòa soạn Tạp chí Tiên phong. Ông là đại biểu Quốc hội khóa I; năm 1948 là Uûy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ 1957 cho đến khi qua đời, Xuân Diệu luôn được bầu vào Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam. Ông được kết nạp vào Đảng năm 1949. Năm 1983, ông được công nhận là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức. Năm 1985, Xuân Diệu lâm trọng bệnh và qua đời.
            Xuân Diệu để lại một di sản văn học đồ sộ với nhiều thể loại:
            - Trước Cách mạng tháng Tám:
                        + Thơ : Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945).
                            + Văn xuôi : Phấn thông vàng (1939)
            - Sau Cách mạng tháng Tám:
                        + Thơ : Ngọn quốc kì (1945), Hội nghị non sông (1946), Dưới vàng sao (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954), Ngôi sao (1955), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau- Cầm tay ( 1962), Khối hồng (1964), Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976), Thanh ca (1982).
                         + Văn xuôi, tiểu luận, phê bình : Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng (1958), Ba thi hào dân tộc (1959), Phê bình giới thiệu thơ (1960), Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966), Đi trên đường lớn (1968), Và cây dời mãi mãi xanh tươi (1971), Mài sắt nên kim (1977), Lượng thông tin và những kĩ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam ( hai tập; 1981& 1982).
            + Dịch và giới thiệu thơ nước ngoài của các nhà thơ như : Targo, Puskin, Maiacốpxki, Đimitrôva,...  
 Một số điểm cần lưu ý :
+ Xuân Diệu là nhà thơ lớn của dân tộc, ông luôn là tấm gương lao động nghệ thuật bền bỉ, dẻo dai, giàu sức sáng tạo, đạt được nhiều thành tựu lớn trong sáng tác.
                       + Xuân Diệu là người giới thiệu, phê bình thơ rất tinh tế và sắc bén. Ông có được những thành công lớn không chỉ ở việc giới thiệu, phê bình thơ cổ điển, thơ ca hiện đại, mà còn ở cả thơ ca nước ngoài. Ông thường chỉ ra được cái hay, sự độc đáo ở mỗi nhà thơ qua tác phẩm của họ.
                       + Cuộc đời và thơ của Xuân Diệu gắn với quê hương đất nước. Ông có khát vọng hiến dâng sức lực và trí tuệ của mình cho dân tộc, ông không ngại khó khăn, gian khổ, hăng hái, nhiệt tình, đi khắp mọi nẻo đường Tổ quốc để phục vụ nhân dân … Chính vì lẽ đó, Xuân Diệu được tất cả độc giả trong nước yêu mến, ngưỡng mộ không chỉ ở thơ, mà còn ở tấm lòng say sưa và chân thành của ông trước cuộc đời.  

2.1 – Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám :
            Trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu có hai tập thơ: Thơ thơ (1938) và  Gửi hương cho gió (1945). Ông là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới cả về nội dung lẫn hình thức. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã khẳng định: “Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại”.
Khác với các nhà thơ cùng thời kì, Xuân Diệu gắn bó thiết tha với cuộc sống, “Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. Khát vọng mãnh liệt đến với cuộc đời, giao cảm với đời là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của thơ Xuân Diệu.
           -  Cảm hứng về tình yêu là cảm hứng nổi bật trong thơ Xuân Diệu. Với ông, tình yêu đã trở thành lẽ sống, “làm sao sống được mà không yêu”, mặc dầu ông cảm nhận :“ Yêu là chết ở trong lòng một ít, vì mấy khi yêu mà chắc được yêu”. Bởi thế, ông luôn có tâm trạng Vội vàng, Giục giã . Ông sợ thời gian, ông muốn vũ trụ ngưng đọng :
                                             Tôi muốn tắt nắng đi    
                                    Cho màu đừng nhạt nắng
                                           Tôi muốn buộc nắng lại
                                          Cho hương đừng bay đi.
                                                                        (Vội vàng)
hay là:                  
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ
                                    Em em ơi, tình non sắp già rồi
                                 Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai      
                                          Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.
                                                                        (Giục giã)
- Tình yêu được Xuân Diệu diễn tả với nhiều cung bậc, từ Gặp gỡ rồi Yêu, cho đến khi Xa cách , Biệt li êm ái và với những tâm trạng và hành động khác nhau: Có khi là sự “dại khờ”, “mời yêu” hay “ngẩn ngơ”, “nhớ mông lung”,“sầu”, … Cũng có khi “ rạo rực” khát vọng :
                                       Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
                                           Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm .
            + Xuân Diệu đã thể hiện được một tình yêu đích thực, không e ấp ngượng ngùng khi bày tỏ tình yêu. Ông muốn tạo nên một không gian thấm đẫm tình yêu để gửi gắm niềm khao khát về tình yêu vô biên và tuyệt đích :
                                    Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ
                                    Phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần
                                    Phải mặn nồng cho mãi mãi đem xuân
                                    Đem chim bướm thả trong vườn tình ái.
                                                                                    (Phải nói)
            + Dẫu tình yêu có nồng cháy, mãnh liệt nhưng nó vẫn không được cuộc đời đón nhận, khiến “cái tôi” phải cầu xin:
                                            Mở miệng vàng.. và hãy nói yêu tôi
                                           Dầu chỉ là trong một phút mà thôi!...
                                                                                    (Mời yêu)
            Càng yêu cuộc đời bao nhiêu, Xuân Diệu càng tự đày ải trái tim của mình và càng thất vọng bấy nhiêu… Điều đó đã tạo nên sự “cô đơn muôn lần muôn thuở cô đơn cho nhà thơ. Đặc biệt, có khi “ cái tôi” đã lên đến đỉnh cao của sự cô đơn, nhỏ nhen, tầm thường:
                                          Ta là Một, là Riêng là thứ Nhất
                                           Không có chi bè bạn nổi cùng ta !
                                                                                    (
“Cái tôi” gục xuống, sợ hãi, thốt lên lời rên rỉ trước cuộc đời thờ ơ, lạnh nhạt, hay đau đớn van xin : “Chớ đạp hồn em”, “Chớ để riêng em phải gặp lòng em” và rơi vào tâm trạng tuyệt vọng :
                                        Xao xác tiếng gà, trăng ngà lạnh buốt
                                    Mắt run mờ, kỉ nữ thấy trăng trôi
                                           Du khách đi, du khách đã đi rồi .
                                                                                    (Lời kĩ nữ)
            Cũng vì thế, tình yêu trong thơ Xuân Diệu gắn liền với nỗi cô đơn và sự hoài nghi. Ngay cả khi “ được yêu” nhưng “ cái tôi” vẫn lo sợ vì cảm nhận sự biệt li, tan vỡ đang dần đến. Cho dù cùng người yêu dạo bước dưới ánh trăng “cái tôi” vẫn cảm thấy:
                                           Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá
                                            Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ.
            hay là:               
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ
                                 Tình yêu đến, tình yêu đi ai biết
                                 Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt
                                 Những vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu hài…”
( Giục giã)
            Có thể nói, tình yêu trong thơ Xuân Diệu thời kì này rất nồng cháy, “vô biên” để rồi rơi vào bi kịch của một trái tim hiến dâng nhầm chỗ và “say khướt đau thương”.
            - Về nghệ thuật: Xuân Diệu cảm nhận cuộc sống bằng nhiều giác quan mà đặc biệt là cảm giác ( Thơ duyên,  Vội vàng, Nhị hồ,… ). Ông sử dụng ngôn ngữ thơ rất sáng tạo, và luôn có sự tìm tòi mới mẻ, độc đáo nhằm tạo nên sức gợi tả, truyền cảm mạnh mẽ cho thơ (Đây mùa thu tới, Khi chiều giăng lưới, Vội vàng). Xuân Diệu đã sử dụng thành công sự tương quan giữa các màu sắc, âm thanh nhịp điệu để tạo nên âm hưởng trong thơ ( Nguyệt cầm, Thơ duyên,… ).
            Tóm lại: Thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám biểu hiện rõ tấm lòng của một con người nặng tình với đời song bế tắc. Tình yêu nam nữ trong thơ Xuân Diệu thời kì này được diễn tả với tất cả cung bậc của nó qua những vần thơ uyển chuyển giàu âm thanh, màu sắc, hình ảnh…, để lại âm vang mạnh mẽ trong lòng người đọc.
 2..2 – Thơ Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám:
2.2.1 - Thời kì đầu sau Cách mạng tháng Tám:
Xuân Diệu hướng về cuộc sống cách mạng của dân tộc , tự hào, phấn khởi trước sự thành công của Cách mạng tháng Tám. Ông bộc lộ khát vọng “Mở lòng ra ôm đón lấy sao vàng” và “Đi theo tiếng gọi nước non thiêng”.
Thơ ông ở thời điểm này thể hiện cảm xúc mạnh mẽ trước hiện thực cuộc sống cách mạng với ý thức, trách nhiệm của một công dân đối với Tổ quốc. Lần đầu tiên viết về cách mạng, Xuân Diệu đã có được những vần thơ trong sáng, yêu đời. Điều đó được biểu hiện rõ ở Ngọn quốc kì (1945) và  Hội nghị non sông (1946). Ý nghĩa thiêng liêng của lá cờ đỏ sao vàng được nhà thơ cảm nhận :
                        Cờ như mắt mở thức thâu canh
                        Như lửa đốt hòai trên chót đỉnh.
                        Cờ như nắng mãi ấm luôn luôn,
                        Sưởi khắp lòng ai nghe vắng lạnh.
                        Sớm hôm canh giữ lấy hồn thiêng,
                        Bay mãi trên trời, treo sứ mệnh.
                                                            (Ngọn Quốc kì)
Có thể nói, so với nhiều nhà thơ khác, thơ Xuân Diệu ra đời kịp thời, mang tính thời sự nhưng cũng giàu chất lãng mạn. Âm hưởng hùng tráng, đằm thắm thiếr tha toát lên từ tác phẩm của ông đã góp phần tạo nên sức cuốn hút, cổ vũ mạnh mẽ bạn đọc nhanh chóng vững lòng tin đến với đời sống cách mạng.        
2.2.2 - Thời kì kháng chiến chống Pháp
            Xuân Diệu hăng hái tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp, gắn bó với cuộc sống nhân dân. Càng ngày ông càng hiểu hơn về những con người giản dị mà vĩ đại. Đó chính là điều kiện thuận lợi giúp ông có được vốn sống và nguồn cảm hứng sáng tạo để viết nên các tập thơ: Dưới vàng sao (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954).
Cảm hứng chủ đạo ở các tập thơ trên là niềm tin yêu, niềm lạc quan trước hiện thực đời sống cách mạng. Ông cảm nhận cuộc đời như :
                        Một sớm mai hồng, một bình minh
                                    Xanh mắt trẻ con,
                                    Hồng môi thiếu nữ.
                                                                        ( Trở về)
Cuộc đời hiện tại dù còn bao gian truân thử thách nhưng đối với nhà thơ “Bà mẹ đời du dương tay mở rộng” và Hương đời luôn thấm đượm. Nhà thơ cho rằng:
Đời đáng yêu – nhiều lúc có gì đâu…
Như đôi lứa mình lặng lẽ nhìn nhau…
Một cái nắm tay, một đầu thuốc dở,
Một tiếng vang trong một mái đầu.
(Hương đời)
Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc cuộc sống cao đẹp của quần chúng và cảm thông với nỗi khổ đau của họ. Hình ảnh quần chúng lần đầu tiên xuất hiện trong thơ  Xuân Diệu chính là một nét mới về đối tượng phản ảnh, nó đánh dấu cho bước chuyển quan trọng về tình cảm nhận thức trên con đường thơ của ông (Tặng làng Còng, Bà cụ mù lòa…). Trên cơ sở đó, nhà thơ đã viết nên nhiều vần thơ giản dị mà thấm nặng nghĩa tình:
                                              Hạt cơm ăn của bà con
                                    Là tình, là nghĩa, là ơn thấm nhuần.
                                                                                    ( Tặng làng Còng)
            Vẻ đẹp của hình ảnh của bà mẹ nghèo trong kháng chiến đã được nhà thơ thể hiện sinh động qua nhiều bài thơ và rõ nét nhất là tình yêu thương của mẹ. Cũng vì thế, khi giã từ Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội nhà thơ không thể nào quên được hình ảnh của mẹ vào những tháng năm đó:
                                           Mẹ nghèo vẫn cố nuôi con:
                                    Khi bùi măng nứa, khi ngon củ mài.
                                           Sẻ từng hạt muối cắn đôi
                                    Nhà sàn chung ở, chăn sui đắp cùng.
                                                                                    (Ta chào Việt Bắc, về xuôi)
Bên cạnh đó, Xuân Diệu cũng bày tỏ được một cách chân thành nỗi trăn trở và sự kính yêu của mình khi viết về Bác. Ông đã tìm được cách thể hiện riêng và rất thấm thía:
                                                 Trên đầu tóc Bác sương ghi
                                            Chắc đôi sợi bạc đã vì chúng con.
( Sáng)
            Dù còn có hạn chế song các tập thơ trên đã thể hiện được bao nỗi niềm, tình cảm của Xuân Diệu trước hiện thực đời sống cách mạng. Thơ Xuân Diệu thời kì này đánh dấu một bước chuyển biến lớn về tư tưởng, tình cảm, giọng điệu… , trên con đường thơ của ông.
2.2.3 - Thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mĩ
- Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc bước vào cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước hiện thực sôi động đó, với sự nhạy cảm, lòng tin yêu cuộc đời mới, thơ Xuân Diệu có sự vươn lên mạnh mẽ, đề cập đến nhiều vấn đề trong cuộc đời mới, biểu hiện rõ ở ba tập thơ: Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau- Cầm tay (1962), Khối hồng (1964).
            Xuân Diệu say sưa ngợi ca cuộc đời mới với những đổi thay mang ý nghĩa sâu sắc trong đời sống của dân tộc, và rồi ông trăn trở nghĩ về mình, bày tỏ chân thành niềm vui hạnh phúc qua nhiều bài thơ như : Ngói mới, Lệ, Chào Hạ Long... Ông nguyện nhìn đời bằng Đôi mắt xanh non, bởi vì, ở khắp mọi nơi, từ các làng quê vùng đồng bằng đến vùng núi Mã Pí-Lèng, hay hải đảo Chòm Cô Tô mười bảy đảo xanh, cuộc sống bao giờ cũng “xanh non”, và“mãi mãi tươi dòn”. Với Xuân Diệu, cuộc sống giờ đây chính là những trang đời đẹp nhất, “những trang tốt lành”, để rồi ông khao khát :
                                    Muốn trùm hạnh phúc dưới trời xanh,
                                    Có lẽ lòng tôi cũng hóa thành
                                                            Ngói mới.
                                                                                    (Ngói mới)
            Không chỉ vui say mà nhà thơ còn tự hào khi đã qua rồi nỗi đau tê tái, “vị buồn ghê mặn chát”, “mực mài nước mắt gửi người thương”, “vũ trụ tưởng tàn, thế gian tưởng hết”…, và giờ đây hạnh phúc đến với mọi người. Vì lẽ đó, ở bài thơ Lệ nhà thơ có được cách nhìn, cách nghĩ rất thấm thía về quá khứ và hiện tại:
                                    Xưa lệ ta sa oán hận đất trời,
                                    Nay lệ òa, ta lại thấy đời tươi!
                                    - Giọt nước mắt ta
                                    Chan chứa tình người.      
            Trong cảnh đất nước chia cắt ông Nhớ quê Nam, với “vườn xoài trưa nắng”, “gió biển Quy Nhơn”, “mảnh vườn Sa Đéc, con kênh Tháp Mười”, nhớ “bà má Năm Căn bỏm bẻm nhai trầu”, nhớ “trăng lam Đèo Cả, mây hồng Hải Vân”; nhớ điệu bổng trầm “… qua nhớ thương em bậu”, nhớ sông Thu Bồn, Trà Khúc, sông Hương, và Gửi sông Hiền Lương bao nghĩa tình sâu nặng :
                                             Gửi ngàn mến với muôn thương trong ấy
                                            Gửi lời về xin bớt nhớ, khoan thương
                                            Gửi kiên trinh một tấm lòng vàng.
            Càng đến với cuộc sống, tình đất nước, tình người trong thơ Xuân Diệu càng đằm thắm thiết tha, càng mang ý nghĩa khái quát sâu sắc.
            Khi cả nước có chiến tranh, Xuân Diệu nhanh chóng hòa nhịp với cuộc sống chiến đấu của dân tộc, ông không ngại khó khăn gian khổ đến với nhiều vùng đất nóng bỏng, ác liệt nhất với tâm nguyện :
                                    Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi,
                                    Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu,
                                    Tôi sống với cuộc đời chiến đấu
                                    Của triệu người yêu dấu gian lao.
                                                                                    (Những đêm hành quân)
            Rất dễ nhận thấy, thơ viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của Xuân Diệu xuất hiện đều đặn trên báo chí vàcó khả năng ứng chiến nhạy bén trước những sự kiện của đời sống kháng chiến. Điều đó được phản ánh rõ nét qua ba tập thơ: Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976).
            Hơn lúc nào hết, nhà thơ  nhận thức rõ hơn về sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam trong chiến tranh. Ông khẳng định Sự sống chẳng bao giờ chán nản, và “chúng ta yêu sự sống bền dai, vĩnh viễn, bao la!”.  
Xuân Diệu có ý thức mở rộng thi đề để phản ảnh mọi mặt của đời sống. Có những cảnh như : Các cháu đi sơ tán, hay cảnh Vợ chuẩn bị hành trang cho chồng đi vào hỏa tuyến đã gợi lên cho người đọc biết bao niềm xúc động mạnh mẽ.
Nét mới của thơ Xuân Diệu ở thời kì này là vừa giàu chất trữ tình vừa chứa đựng tính triết lý biểu hiện rõ trong bài Quả sấu non trên cao   Sự sống chẳng bao giờ chán nản. Mặt khác, thơ ông còn có thêm chất trào phúng (Con chim và xác chiếc tàu bay Mĩ) .
 2.2.4 - Từ sau 1975 đến khi qua đời
Sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, Xuân Diệu viết về Miền Nam quê ngoại, lòng dạt dào vui sướng khi Đi giữa Sài Gòn trong ngày chiến thắng và ông bồi hồi nhớ về quê ngoại sau bao năm xa cách.
Ông có khát vọng:  Tôi muốn đi thăm khắp cả miền Nam,  Nghe nhạc Nam  để “thức mãi cùng thương nhớ”, đến Phan Thiết “thăm kinh đô cá mắm”, hay Tâm sự với Quy Nhơn sau hơn ba mươi năm trở lại với quê ngọai, nơi chan chứa kỉ niệm của tuổi thơ và tự hào hơn về vẻ đẹp của miền đất này:
                        Ôi! Biển Quy Nhơn, biển đậm đà
                        Thuyền đi rẽ sóng, sóng viền hoa.
                        Cảm ơn quê má muôn yêu dấu
                        Vẫn ấp iu hoài tuổi nhỏ ta.
Nhiều vần thơ của ông ở thời kì này thể hiện sự đằm thắm nghĩa tình đối với miền Nam. Có thể nói: “Viết về miền Nam là Xuân Diệu đã khơi dậy những tình cảm, những kỉ niệm sâu sắc của mình, những hình ảnh được chắt lọc qua nhiều năm tháng để chỉ còn lại những gì thực sự là máu thịt, là rung động cho thơ”( Mã Giang Lân ).
2.2.5 - Thơ tình của Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám
 Với thơ tình, Xuân Diệu đã đạt được những thành công rất đặc sắc. Ở mảng thơ này bản lĩnh nghệ thuật của Xuân Diệu bộc lộ rõ nét nhất.
Trước Cách mạng tháng Tám, thơ tình Xuân Diệu giãi bày niềm khao khát được ban phát tình yêu, hiến dâng, vồ vập nhưng rồi như Nước đổ lá khoai, và kết cục rơi vào bi kịch của một trái tim hiến dâng nhầm chỗ. Còn sau Cách mạng tháng Tám, thơ tình của ông có được một nguồn mạch mới, đó là tình yêu bền chặt, gắn bó không thể gì chia cắt nổi bời tình yêu của lứa đôi bao giờ cũng nồng nàn, đến “ngàn năm không thỏa”. Dù “anh không xứng là biển xanh / nhưng anh muốn em làm bờ cát trắng” để có thể :
            Hôn mãi cát vàng em
            Hôn thật khẽ, thật êm
            Hôn êm đềm mãi mãi.
                                    ( Biển )
Còn nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của tình yêu được nhà thơ cảm nhận :
                            Uống xong lại khát là tình
                        Gặp rồi lại nhớ là mình của ta
                                                            ( Uống xong lại khát)
Xuân Diệu cảm nhận sự xa cách của tình yêu “một khắc là thế kỉ”. Bởi vậy, càng yêu nhau họ càng mong muốn gần nhau, gắn bó với nhau để rồi hiểu nhau hơn. Họ khao khát mãi bên nhau để san sẻ cả niềm vui hạnh phúc, cũng như nỗi buồn. Nhà thơ cảm nhận cho rằng :
                        Vai anh  khi để đầu em tựa
                        Cân cả buồn vui của một đời
                                                            (Tình yêu san sẻ)
 Ông cũng nói đến nỗi đau trong tình yêu, nỗi đau đó nhức nhối vò xé tấm lòng ho, nó là Cái dằm, là“vết thương trong cõi tinh thần” của lứa đôi. Nhưng nỗi đau rồi sẽ qua đi, họ nhanh chóng “ làm lành” với nhau vì “ em là nhân của hồn anh”. Có thể nào anh lại thiếu vắng em giữa cuộc đời, khi anh hiểu rằng :
                              Mang em trong dạ như mầm
                        Ngày đi suy nghĩ đêm nằm nhớ thương
                                                            ( Quả trứng và lòng đỏ)
Tình yêu trong thơ Xuân Diệu càng trở nên cao đẹp hơn khi lứa đôi hiểu rõ giữa họ với cuộc đời có mối quan hệ thắm thiết. Hạnh phúc lứa đôi gắn liền với hạnh phúc của dân tộc, nhà thơ cho rằng:
                                Của đời ta nhận ấm êm
                        Hồn trao âu yếm ta thêm tặng đời
( Tình yêu muốn hóa vô biên).
            Khác với trước Cách mạng tháng Tám, giờ đây tình yêu ít có nỗi buồn mà thấm đượm niềm vui. Tình yêu đã làm trỗi dậy niềm vui, giúp lứa đôi “cởi hết ưu phiền gửi gió mây”, và khi đó giọng nói của em dù chỉ là “giọng nói thường” nhưng “anh vẫn nghe hay tựa tiếng đàn”, vẫn ngập tràn hạnh phúc trong cảnh :
                                    Em cười ríu rít ở sau xe
                                    Em nói lòng anh mãi lắng nghe
                                    Thỉnh thoảng tiếng cừi em lại điểm
                                    Đời vui khi được có em kề.
                                                                        ( Giọng nói )
           Ngoài ra, thơ tình Xuân Diệu thời kì này bên cạnh tình yêu còn có thêm tình vợ chồng. Tuy viết về tình vợ chồng nhưng vẫn quyện hòa, chan chứa tình yêu, vẫn là thơ tình yêu. Điều này biểu hiện rõ qua các bài thơ như : Anh thương em khi ngủ, Đứa con của tình yêu,  Vợ chuẩn bị hành trang cho chồng vào hỏa tuyến, Dấu nằm, Đứng chờ em,...
Có thể nói, đến với thơ tình của Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám, chúng ta nhận thấy: tóc Xuân Diệu dù đã hoa râm nhưng ông vẫn giữ được chất thanh xuân của tâm hồn để cùng tuổi trẻ nói chuyện tri âm, chuyện tình yêu, hẹn thề, nói chuyện say đắm … Bởi thế, nhà thơ Trần Lê Văn đã viết :
                                   “ Bởi quá yêu đời nên nặng lòng ấp ủ
                                      Bởi không muốn già, nên bền chí thanh xuân”
                                                                          ( Dây đàn bỗng đứt).
            Mảng thơ tình của Xuân Diệu, chính là món quà tặng người đời mãi mãi, như ở bài thơ Đề tặng ông đã viết :
                                           Tặng lòng con trai
                                                         Tặng lòng con gái
                                                          Tặng hoa tặng trời
                                                         Tặng tình mãi mãi
                                               ……….
                                                      Tặng hương - tặng Đời”.

3 – Xuân Diệu với văn xuôi, tiểu luận, phê bình    
 Cần  lưu ý các điểm sau :
            - Sự quan tâm của Xuân Diệu đối với các nhà thơ lớp kế cận và lớp trẻ. Không ít nhà thơ trẻ  đã đạt được sự thành công trong sáng tạo phần nào có sự giúp đỡ, quan tâm của Xuân Diệu. 
            - Xuân Diệu giới thiệu thơ quần chúng. Ông chịu khó tìm kiếm, chắt lọc cái hay, cái đẹp trong những sáng tác của họ để giới thiệu một cách trân trọng.
            - Xuân Diệu khám phá, phát hiện cái hay, cái đẹp trong thơ của các nhà thơ hiện đại ưu tú như :  Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên …
            - Giới thiệu thành tựu của các nhà thơ lớn trong thơ ca dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương …                  
- Xuân Diệu dịch và giới thiệu một số nhà thơ lớn ở nước ngoài đối với người đọc Việt Nam và đồng thời giới thiệu một số bài thơ Việt Nam tiêu biểu sang các nước khác.
4 – Phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu:                                                             
                                      
-   Xuân Diệu là một nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và sống hết mình cho cuộc sống. Xuân Diệu luôn có mặt trong cuộc sống, ông đặt tên cho một tập thơ của mình là Tôi giàu đôi mắt. Ông hăm hở, say mê sáng tạo với trách nhiệm của một công dân trước cuộc sống. Thơ ông bám lấy thực tại của cuộc sống, đưa sự vật, hiện tượng vào thơ, muốn mở rộng cánh cửa thơ cho cuộc sống tràn vào, do vậy trong thơ ông có sự bề bộn của những chi tiết hiện thực cuộc sống. Ông muốn thơ phải có sức chứa lớn và sức phản ảnh rộng lớn phong phú.
  -      Xuân Diệu là nhà thơ giàu sức sáng tạo, luôn có ý thức tìm tòi, thể nghiệm trên nhiều phương diện (cách xây dựng hình tượng, nhịp điệu, ngôn ngữ … ). Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân tạo nên thơ hay và thơ trung bình ở mỗi tập thơ của ông.
       -    Tâm hồn thơ Xuân Diệu luôn có sự tinh tế và nhạy cảm. Đó là yếu tố bền vững trong thơ Xuân Diệu trước và sau cách mạng. Nói cách khác, sức thanh xuân luôn tràn đầy trong tâm hồn thơ  Xuân Diệu. Tươi trẻ, hăng say như cái thuở ban đầu yêu và đang yêu là nét nổi bật trong thơ Xuân Diệu. Sự nhạy cảm của tâm hồn đã tạo cho thơ ông thêm giàu hương vị của cuộc đời, tác động mãnh liệt đối với nhận thức của người đọc.
        -    Thơ Xuân Diệu có khi còn nặng về kể, giải bày, ít ẩn ý, thiếu hàm súc, dễ dãi, dài dòng trong nhạc điệu, từ ngữ . Điều đó tạo nên sự hạn chế phần nào về sức truyền cảm và hấp dẫn của thơ ông đối với người đọc.  
-          Xuân Diệu là một nhà thơ cần mẫn,sung sức trong sáng tạo nghệ thuật và đã có những cống hiến to lớn cho văn học Việt Nam nói chung, thơ ca Việt Nam nói riêng, ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị đặc sắc, mà đặc sắc nhất là thơ tình yêu nam nữ.
-Nghĩ về Xuân Diệu là chúng ta nghĩ về một tài năng, một tấm gương lao động nghệ thuật giàu sức sáng tạo, xứng đáng để các nghệ sĩ noi theo.     
Lập dàn ý
Mở bài :
1. Về tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm
- Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu và tuổi trẻ. Ông được mệnh danh là “ông hoàng của thi ca tình yêu”. Trước cách mạng, với hai tập “Thơ Thơ” và “Gửi hương cho gió”, Xuân Diệu đã chính thức trờ thành “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. Bài thơ “Vội Vàng” nằm trong tập “Thơ Thơ” là bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách thơ tình yêu của Xuân Diệu viết về mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu. Tác phẩm để lại dấu ấn về nội dung và nghệ thuật đặc sắc
-Bài thơ Vội vàng được sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ thơ, thi phẩm đầu tay và ngay lập tức vinh danh Xuân Diệu như một đại diện tiêu biểu nhất của phong trào Thơ Mới.
- Nội dung : Bài thơ được coi là tuyên ngôn về lẽ sống của nhà thơ. Tất cả mọi quan niệm ,thái độ của nhà thơ  đối với cuộc đời được phản ánh trong bài thơ.Những quan niệm ấy đặt trong mối quan hệ với không gian, thời gian và đời người.Nó không phải lí thuyết khô khan mà được diễn tả bằng cảm xúc chân thành tha thiết.
Thân bài:
Sống vội vàng chỉ là một cách nói. Trong cốt lõi, đây là một quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của cái Tôi cá nhân trong thời hiện đại. Quan niệm sống nói trên được diễn giải qua một hệ thống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc “ biện luận” rất riêng của tác giả.
a/ Từ phát hiện mới: cuộc đời như  một thiên đường trên mặt đất.
    Bước vào bài thơ, độc giả ngạc nhiên trước những lời tuyên bố lạ lùng của thi sĩ:
                      Tôi muốn tắt nắng đi
                      Cho màu đừng nhạt mất
                      Tôi muốn buộc gió lại
                      Cho hương đừng bay đi!
- 4 câu thơ ngắn gọn, vang ngân một cách đĩnh đạc trang trọng :Tôi muốn…
- Người đọc bị bất ngờ bởi ý thơ táo bạo. Có cảm giác như thi nhân đang đi giữa đất trời với nắng và gió, với hương thơm và cỏ lạ và muốn tận hưởng tất cả.
-Hai điệp ngữ “tôi muốn” và điệp từ “cho” vừa là sự khẳng định vừa tạo âm điệu mạnh mẽ dứt khoát và đầy khát vọng . Nhà thơ muốn giữ nắng, giữ gió, giữ hương , quà tặng tuyệt diệu của tạo hoá ban cho con người .Nắng tắt thì ngày sẽ tàn ,gió bay sẽ đưa hương đi, nhà thơ muốn níu giữ thời gian trở lại
- Ko chỉ mong muốn khát khao câu thơ còn chứa đựng cả sự khẩn cầu của nhà thơ: Đừng nhạt mất- đừng bay đi. sự khẩn cầu ấy lặp 2 lần trong đoạn như muốn diễn tả niềm thiết tha của nhà thơ trứơc vẻ đẹp cuộc đời.
- Có lẽ hơn ai hết nhà thơ Xuân Diệu hiểu rằng những điều ông muốn , ông khát vọng trái ngược với qui luật khắc nghiệt của tạo hoá. Cũng như sau này khi là nhà thơ của CM XD đã mơ ước có trăm vạn bàn tay, có trăm vạn trái tim để ôm trọn MN vào lòng
-Như vậy chỉ 4 câu thơ đầu XD đã nói một cách đầy đủ nhất cảm xúc chủ đạo của bài thơ : vv để níu giữ vẻ đẹp của trần thể , níu giữ thời gian
2. Từ câu 5 đến câu 12
-Nhà thơ phát hiện một thiên đường trên mặt đất: bướm ong , hoa lá ,cỏ cây.Đó là những h/a đẹp nhất chốn vườn trần.
- Nếu như các nhà thơ mới khác hoàn toàn mất vị trí , định hướng trong không gian địa lí và ko gian tinh thần đi tìm niềm vui trong một thế giới khác: Chốn bồng lai tiên cảnh hay tháp ngà tình yêu thậm chí quay về quá khứ đắm chìm trong điên loạn thì XD ko chấp nhận lối thoát tiêu cực ấy, ông muốn chỉ cho chúng ta vẻ đẹp của cuộc đời trần thế, Điệp từ “Này đây” lặp nhiều lần , vừa liệt kê vừa như bày ra trước mắt người đọc những mốn ăn mà tạo hoá ban cho con người. âm điệu “này đây” mỗi lúc một mạnh cho thấy sự hấp dẫn kì diệu, sức cuốn hút lạ lùng của một thế giới tưởng như bình thường.
- Thế giới ấy ngày nào ta cũng thấy , cũng qua vậy mà XD khiến chúng ta phải ngạc nhiên như lần đầu mới gặp. XD đã nhìn t/g ấy bằng cặp mắt “xanh non, biếc rờn” để khám pha những bí ẩn của nó.Thiên đường ấy giàu có và phong phú vô cùng : Đồng nội xanh rf, cành tơ phơ phất ,ánh sáng ..
Mỗi hình ảnh , sợ vật đều toát lên sự sống mãnh liệt, sự trẻ trung hấp dẫn đồng thời thể hiện cái nhìn đầy thiện cảm, háo hớc của nhà thơ trước cuộc đời trần thế.
- XD cũng mang cái buồn chung của thế hệ các nhà thơ mới, nhưng XD khác họ ở chỗ ko nhjnf t/g  màu tang  tóc buồn thương, trước sau XD vẫn là người yêu cuộc sống, và nếu có buồn chăng nữa cũng là bởi ko được hưởng tất cả vẻ đẹp cuộc sống mà thôi.
- Đoạn thơ với hàng loạt những từ gợi cảm :Ong bướm, yến anh, tuần tháng mật , khúc tình si, cặp môi gần. XD nhìn c/s bằng cặp mắt của tình yêu. Ong bướm, yến anh là những h/a tượng trưng cho ty, hạnh phúc lứa đôi. Tuần trăng mật gợi sự sung mãn, tròn đầy của hạnh phúc. Khúc tình si là cụm từ gợi được nhạc điệu say mê, du dương đắm đuối của ty.
XD nói về ty bao giờ cũng như một thứ t/c mãnh liệt, tuyệt diệu nhất. Nó vừa trần thế, vừa tinh khôi, vừa đồi hỏi một cách vô biên vừa tận hưởng tuyệt đích. Còn trong bài thơ này, nói về c/s bàng ngôn ngữ ty, Xd như muốn nhắc nhở chúng ta một diều vô cùng quan trọng: CS cũng đẹp đẽ, đắm say như ty đôi lứa. Nói một cách khác, trong thiên đường nơi trần thế, tuổi trẻ ty vẫn là thứ đáng trân trọng nhất.
- Với nhà thơ, thiên đường trần thế lúc nào cũng là mùa xuân. Thời khắc lưu lại nhiều hương sắc xuân nhất chính là tháng giêng: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Mùa xuân, tháng giêng đồng nghĩa với sự trẻ trung, ắp đầy hạnh phúc. . Cách so sánh ở đây thật táo bạo, mới mẻ. Mùa xuân là từ dùng chỉ thời gian. Thời gian được coi như có hình khối đường nét rõ ràng. Hơn thấ nữa lại là hình ảnh tượng trung cho một ty yêu rõ ràng nhất. Thêm vào đó tháng giêng còn được cảm nhận bằng vị giác: ngon; được cảm nhận bằng khoảng cách: gần. Phải chăng về điểm này mà XD được coi là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới. Và như vậy, thời gian đã được XD ty hoá, cuộc sống đã được ty hoá sao cho tràn trề hphúc. CS, ty ở đay có hình khối đường nét cụ thể, có hương vị ngọt ngào say đắm. Chỉ có XD mới có cách cảm nhận độc đáo, riêng biệt như vậy. Trong thơ xưa, thi nhân thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực của mọi vẻ đẹp, trong đó có vẻ đẹp con người. Với XD thì ngược lại. Ông lấy vẻ đẹp của con người trần thế làm chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp. Chỉ có con người là lung linh, nhất là đẹp nhất. Đây chính là quan niệm tiến bộ đầy chất nhân văn của nhà thơ về nhân sinh, về ty và hp. Vẻ đẹp ấy của con người như lan toả ra cỏ cây, hoa lá, chim muông. Có thể nói, thiên nhiên trong thơ XD lúc này đã được con người hoá: ánh sáng chớp hàng mi, yến anh say khúc tình si… Mọi sự cựa quậy, sinh sôi của tạo vật gắn liền với sinh hoạt của con người. Sức xuân như đang trào dâng mãnh liệt nhất ở mọi lúc mọi nơi, mọi cảnh mọi vật và đặc biệt ở trong con người.
- Lắng sâu trong âm hưởng thơ là hồn thi nhân sung sướng mãn nguyện, mở rộng tấm lòng đón nhận tất cả những âm vang của đời. Mọi âm sắc, đường nét như được tận hưởng trọn vẹn bởi tấm lòng khao khát yêu cuộc sống của nhà thơ. TG viết: Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa. Câu thơ tự nó đã tách ra làm đôi. Nửa thứ nhất vơi ba âm tiết vanh lên và khép lại cả thế giới thần tiên mà nhà thơ đã diễn tả ở trên. Nửa còn laị mở ra một trạng thái khác mà ranh giới chính là từ nhưng. Sau từ đó chính là một nốt lặng diễn tả cái sững sờ, bối rối của nhà thơ. Cái vội vàng một nửa ấy vừa là ham muốn được tận hưởng, vừa diễn tả một chút lo sợ, một chút hãi hùng. Nửa câu thơ ấy như là một ciếc bản lề đẻ nối tiếp ý thơ của phần sau. Xd đã tự đặt ty, cs của mình trong mqhệ với thời gian, đời người và thực sự cảm thấy hốt hoảng, bất lực. Tgian vẫn tuần hoàn, đời người một đi ko trở lại, đặc biệt là tuổi xuân càng ko hai lần thắm lại. Từ nỗi lo lắng đến bàng hoàng này, nha thơ đã lý giải sự cuống quýt, vội vàng của mình ở khổ thơ sau. Và nếu xem bài thơ có kết cấu luận đề, thì câu thơ: Tôi sung sướng nhưng… là một phân giải giữa nguyên nhân và hệ quả. Vì quá đắm say c/đời mà cuộc đời ko thể chờ đợi bất cứ điều gì thì chỉ còn một cách tận hưởng cho no nê, đã đầy tất cả mọi hương thơm trái ngọt mà tạo hoá ban tặng. Toàn bộ phần còn lại của thi phẩm minh chúng cho nhan đề của chính nó.
3.Từ câu 13 đến câu 30
- Diễn tả tâm trạng hoài xuân của thi nhân
- Sống giữa mùa xuân , cuộc đời tuổi trẻ , thiên nhiên mà lòng ko hề thanh thản: Tôi ko chờ….
Đang giữa ngày xuân nhưng t/g vẫn nghĩ rằng đến một ngày xuân qua hạ tới.Có nghĩa là nhà thơ luôn đăth mình trong dòng chảy bất tận của thời gian mà ham muốn, mà yêu cuộc sống, mà ngẫm mghĩ về cái hữu  hạn của đời người.
- Với nhà thơ khát vọng nứu giữ t/g chỉ là khát vọng. Nhà thơ luôn cảm thấy bước đi của t/g lạnh lùng và khắc nghiệt : xuân tới, xuân qua , xuân non , xuân già. Và cả mùa xuân của đời người cũng đương qua.Điều này cho thấy trong thơ XD luôn có một quan niệm mới về thời gian . thời gian ko tuần hoàn, không tĩnh lặng như trong thơ trung đại “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại”.Thời gian là dòng chảy vô cùng vô tận. Không ai có thể uống nước 2 lần trên một dòng sông.Đời người cũng vậy, cháy trôi trong Sinh- lão –bệnh – tử. Đời người thật hữu hạn trước cái vô cùng vô tận của thời gian.
- Xuân Diệu ko tin và thuyết nhân quả và hồi sinh của đạo phật.Ông luôn ám ảnh bởi mùa xuân sẽ qua đi ko bao giờ trở lại. Con người sẽ vĩnh viễn trở về cát bụi, cảm nhận điều đó, nhà thơ quay ra hờn trách tạo hoá: Nói làm chi…còn tôi mãi”
Sự trách móc ấy thực ra là những cảm xúc của nhà thơ đã lên tới đỉnh điểm với khát vọng muốn phá tung tất cả mọi giới hạn của đời sống và cả  những quy luật khắt khe của đời sống đẻ trường tồn , bất tử .
- Trong cảm hứng nuối tiếc xót xa ấy, nhà thơ tiếp tục diễn tả tâm trạng hoài xuân của mình :Còn trời đất… Phải chăng …sắp sửa.
Thế giới đang rộng mở trước mắt chúng ta với núi sông, lá biếc, gió xinh, hoa nở chim hót..Nhưng giờ đây ko phải là bức tranh sự sống, nhà thơ cảm nhận thiên nhiên , đất trời tạo vật cũng có tâm trạng như chính mình.Chúng cũng linh cảm thấy sự chia phôi, sự tiễn biệt, phai tàn sắp sửa xảy ra. chúng dường như cũng đang hờn giận trách móc tạo hoá.
Cái nhìn thời gian cái nhìn cảnh vật xung quanh cho thấy nỗi sợ hãi trong tâm hồn nhà thơ .Nó ko còn mơ hồ nữa mà trở nên rõ nét, rõ ràng ,và hùng hồn hơn. Nỗi sợ của con người ham sống.
4. Phần còn lại của bài thơ Vội Vàng.
- Giọng điệu của đoạn thơ đột ngột thay đổi. ở đoạn trên là âm hưởng trầm buồn nay trở nên cuống quýt, vội vã, sôi nổi.
- Cảm xúc thơ ở đây là hệ quả tất yếu của những nhận thức về tgian ở đoạn trên. Đặt mình giữa dòng chảy của tgian mà tiếc cho cuộc đời ko thể kéo dài, đồng thời Xuân Diệu cũng ko muốn một cuộc sống vô nghĩa. Nhà thơ như giục giã chính mình: Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm. Mau đi thôi để chạy đua với tgian, chạy đua cùng tuổi trẻ cùng màu xuân cua rcuộc đời. Nhà thơ sợ chiều tà ngả bóng, sợ tuổi già, sợ tuổi xế chiều một mình với chiếc bóng âm thầm lặng lẽ, sống mà chỉ như tồn tại, ko hưong sắc, ko tình yêu… Cảm xúc này còn được XD thể hiện ở nhiều bài thơ khác, nhất là những bài thơ nói về ty.
Mau lên chứ vội vàng lên với chứ
Em em ơi tình non sắp già rồi
Mau lên chứ vội vàng lên với chứ
Em ơi em anh rất sợ ngày mai
Khát vọng cháy bỏng ấy đã khiến nhà thơ tự đề cho mình một phong cách sống:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
Đây là một tuyên ngôn sống đúng nghĩa với với tâm hồn XD. Đây cũng là phong cách  riêng  của XD trong thi ca.
Ba chữ Ta muốn ôm được tách ra thành một dòng thơ rất ngắn nhưng lại nư một sự dồn nén cảm xúc. Giọng thơ cũng hết sức trang nghiêm, đĩnh đạc nhưng vẫn ko giấu nổi cảm xúc dâng trào. Vẫn là cảm xúc dâng trào nhưng tg ko dùng đại từ Tôi mà dùng chữ Ta. Cái tôi cá nhân đã trở thành cảm xúc chung của cả một thế hệ. Mặt khác cái tôi ấy dường như còn nhỏ bé, cô đơn nên Xuân Diệu muốn có cái ta mênh mang rộng lớn.  Dù như vậy Tg vẫn thấy chưa thật đủ . Dù đã hoà mình vào thế giới của đam mê, của đắm say, rạo rực, đang vận động ko ngừng cùng nhịp sống Xuân Diệu vẫn còn khao khát. Cái tham tham đầy cá tính và nhân bản ấy là biểu hiện của một ý thức đúng đắn về cuộc sống.
- Khi hiểu giá trị đích thực của cuộc sống XD muốn dang đôi tay bé nhỏ của mình đê ôm trọn yêu thương của đời. Khát vọng lớn lao ấy được nhà thơ thể hiện qua điệp từ Ta muốn và mỗi lần nhắc lại là một lần cảm xúc dồn nén hơn, dâng trào hơn.
*Về nghệ thuật
Nét độc đáo trong cấu tứ.
Bài thơ có sự kết hợp hài hoà hai yếu tố : Trữ tình và chính luận. Trong đó, chính luận đóng vai trò chủ yếu. Yếu tố trữ tình được bộc lộ ở những rung động mãnh liệt bên cạnh những ám ảnh kinh hoàng khi phát hiện về sự mong manh của cái Đẹp, của tình yêu và tuổi trẻ trước sự huỷ hoại của thời gian. Mạch chính luận là hệ thống lập luận, lí giải về lẽ sống vội vàng, thông điệp mà Xuân Diệu muốn gửi đến cho độc giả, được trình bày theo hệ lối qui nạp từ nghịch lý, mâu thuẫn đến giải pháp.
Là cây bút tích cực tiếp thu thành tựu nghệ thuật thơ trung đại và đặc biệt cái mới trong thơ phương Tây, Xuân Diệu có nhiều sáng tạo trong cách tạo ra cú pháp mới của câu thơ, cách diễn đạt mới, hình ảnh mới, ngôn từ mới.
Ví dụ trong đoạn thơ cuối, tác giả cũng đã mạnh dạn và táo bạo trong việc sử dụng một hệ thống từ ngữ tăng cấp như : ôm” ( Ta muốn ôm ),  riết ( Ta muốn riết ) ,“say” ( Ta muốn say ),  thâu ( Ta muốn thâu )…Và đỉnh cao của đam mê cuồng nhiệt là hành động cắn vào mùa xuân của cuộc đời, thể hiện một xúc cảm mãnh liệt và cháy bỏng. Không dừng lại ở đó, tác giả còn sử dụng một hệ thống từ ngữ cực tả sự tận hưởng: “chếnh choáng, đã đầy, no nê…diễn tả niềm hạnh phúc được sống cao độ với cuộc đời.
Kết bài :
Tri thức văn hoá
Vội vàng và nhiều bài thơ khác của Xuân Diệu thường gây ấn tượng với công chúng bởi những lời kêu gọi kiểu :Nhanh với chứ với chứ! Vội vàng lên với chứ! Em, em ơi! Tình non sắp già rồi! hoặc Gấp lên em! Anh rất sợ ngày mai! Đời trôi chảy, tình ta không vĩnh viễn!
Khi thi nhân cất cao những lời kêu gọi : Mau lên thôi! Nhanh với chứ! Vội vàng lên! mà Hoài Thanh từng nhận xét một cách hóm hỉnh “là đã làm vang động chốn nước non lặng lẽ” thì không có nghĩa là anh ta đang tuyên truyền cho một triết lý sống gấp từng bị coi là lai căng và vẫn bị đặt dưới một cái nhìn không mấy thiện cảm của người phương Đông, một xứ sở vẫn chuộng lối sống khoan hoà, chậm rãi.
Cần phải thấy rằng, bước vào thời hiện đại, sự bùng nổ của ý thức cá nhân đã kéo theo những thay đổi trong quan niệm sống và đánh thức một nhu cầu tự nhiên là cần phải thay đổi điệu sống. Ý thức xác lập một cách sống mới nói trên càng ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc trong tầng lớp trẻ. Phát ngôn của Xuân Diệu trên phương diện thi ca chỉ có tính cách như một đại diện.

Nhìn ở một góc độ khác, bài thơ bộc lộ nét đẹp của một quan niệm nhân sinh mới : sống tự giác và tích cực, sống với niềm khao khát phát huy hết giá trị bản ngã, tận hiến cho cuộc đời và cũng là một cách tận hưởng cuộc đời. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét